Xem Nhiều 1/2023 #️ Căn Cứ Ly Hôn Trong Pháp Luật Việt Nam # Top 5 Trend | Duongveyeuthuong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Căn Cứ Ly Hôn Trong Pháp Luật Việt Nam # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Căn Cứ Ly Hôn Trong Pháp Luật Việt Nam mới nhất trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Abstract: The Law on Marriage and Family of Vietnam enforces and protects the principle of the marriage freedom, including the right to divorce of the spouse; with the viewpoint, it cannot force an individual to get married by the law, it also cannot force a couple to maintain a marriage relationship by the law when deep conflicts rising between the couple and they are not willing live together. Divorce is considered indispensable and unavoidable when a marriage has “died”. Divorce is not only related to the interests of the individual and the spouse but provides potential impacts to interests of the family and society. Therefore, it is needed by law, the State to control the couple’s right to divorce freedom by the legal regulations on the ground for divorce.

Keywords: Grounds for divorce; Law on Marriage and Family.

1. Quan điểm về ly hôn và căn cứ ly hôn trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam

Xã hội phong kiến ở Việt Nam trải dài hàng ngàn năm. Trong các quan hệ xã hội, đặc biệt đối với các quan hệ HN&GĐ, tư tưởng nho giáo thống trị với những lễ giáo được thể chế trở thành pháp luật. Theo đó, bên cạnh những phong tục, tập quán, những quy định của pháp luật mang tính truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà ngày nay vẫn được gìn giữ và phát huy (sự yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau giữa những người thân thuộc trong gia đình; tình nghĩa thủy chung của vợ chồng; nghĩa vụ kính trọng, phụng dưỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà…); thì những tập tục, những quy định thể hiện sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình… cũng được duy trì như bản chất của xã hội phong kiến “trọng nam, khinh nữ”. Pháp luật bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu ly hôn và căn cứ ly hôn thường chỉ thuộc về người chồng!

Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật thời Nhà Lê) và Bộ luật Gia Long (thời nhà Nguyễn) là hai đạo luật của xã hội phong kiến ở Việt Nam (được khảo cứu còn nguyên vẹn cho đến ngày nay), khi quy định về căn cứ ly hôn đã dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng; đặc biệt là “tội”, “lỗi” của người vợ. Theo quy định về “thất xuất” của Bộ luật Hồng Đức, người chồng buộc phải bỏ (ly hôn) vợ khi người vợ bị vô tử (không có con), đa ngôn (lắm lời), ghen tuông, gian dâm với kẻ khác (ngoại tình, không chung thủy), có hành vi trộm cắp, bất kính với cha, mẹ chồng, bị ác tật[2]; trường hợp vợ cả, vợ lẽ phạm vào điều nghĩa tuyệt (thất xuất) mà người chồng giấu diếm, không bỏ (ly hôn) thì bị xử tội biếm, tùy theo việc nặng nhẹ[3] mà xử.

Đối với lỗi của người chồng, Bộ luật Hồng Đức quy định: Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 05 tháng không đi lại (vợ được trình quán sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn một năm. Vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này. “Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cấm người khác lấy vợ cũ thì phải tội biếm“[4].

Quy định về nội dung căn cứ ly hôn của Bộ luật Hồng Đức phản ánh xã hội và quan điểm lập pháp của nhà nước phong kiến ở Việt Nam thời kỳ này: Phân biệt đối xử giữa vợ và chồng sâu sắc; thường chỉ có người chồng mới thực hiện được quyền ly hôn vợ, còn người vợ thường không thực hiện được quyền ly hôn của mình. Nội dung của căn cứ ly hôn thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng.

2. Quan điểm về ly hôn và căn cứ ly hôn trong thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1858 đến trước năm 1945)

Việt Nam trải qua gần 80 năm Pháp thuộc. Giai đoạn từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Phỏng theo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1804 (Bộ luật Naponeon) của Cộng hòa Pháp, ba văn bản pháp luật đã được Nhà nước thuộc địa nửa phong kiến ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có các quan hệ HN&GĐ.

Giai đoạn này, tư tưởng lập pháp của nhà nước tư sản đã được du nhập và thực hiện ở Việt Nam, song hành cùng hệ thống phong tục, tập quán còn rất lạc hậu của xã hội phong kiến. Ba BLDS được ban hành áp dụng ở ba miền (vùng) khác nhau (BLDS Bắc Kỳ năm 1931, BLDS Trung Kỳ năm 1936 và Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883). Về căn cứ ly hôn, cả ba văn bản luật này cùng với quan niệm coi hôn nhân như là một “hợp đồng”, một “khế ước” do hai bên nam, nữ thỏa thuận xác lập để chung sống trong quan hệ vợ chồng. Vì vậy, nội dung của căn cứ ly hôn cũng dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hoặc lỗi chung của hai vợ chồng dẫn tới cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục. Ví dụ, người chồng có quyền ly hôn vợ, khi người vợ phạm gian (ngoại tình); người vợ đã tự ý bỏ nhà chồng mà đi, tuy bách phải về mà không về; khi vợ thứ đánh chửi, bạo hành với vợ chính. Vợ có thể ly hôn chồng nếu người chồng tự ý đuổi vợ ra khỏi nhà mà không có lý do chính đáng; người chồng đã làm trái trật tự thê thiếp; hoặc người chồng đã không thi hành nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho vợ, con tùy theo tư lực. Hai vợ chồng có thể cùng ly hôn khi một bên quá khắc hành hạ, chửi rủa thậm tệ bên kia hay với tổ phụ của bên kia[5]…

3.Quan điểm về ly hôn và căn cứ ly hôn trong thời kỳ chế độ Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam (từ 1954 đến 1975)

Các quy định về căn cứ ly hôn thời kỳ này đã bớt khắt khe hơn đối với người vợ; phần nào đã thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng về ly hôn và căn cứ ly hôn. Nội dung của căn cứ ly hôn vẫn dựa trên cơ sở “lỗi” của mỗi bên vợ, chồng hoặc “lỗi” chung của cả hai vợ chồng. Quy định này dựa vào quan niệm thuần túy đã coi hôn nhân như hợp đồng dân sự, vậy nên, chỉ được phá bỏ hôn nhân khi vợ, chồng có lỗi đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn ban hành và thực hiện ba văn bản luật, điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ:

– Luật Gia đình ngày 02/01/1959;

– Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 (Sắc luật số 15/64);

– Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 (BLDS năm 1972).

Về ly hôn và căn cứ ly hôn, Luật Gia đình năm 1959 đã thực hiện nguyên tắc cấm vợ chồng không được ly hôn; trường hợp đặc biệt, việc ly hôn sẽ do Tổng thống quyết định và phán quyết của Tổng thống là tối hậu (không bị kháng cáo, kháng nghị)[6]. Luật này chỉ chấp nhận cho hai vợ chồng được ly thân[7].

Sắc luật số 15/64 và BLDS năm 1972 đã ghi nhận quyền ly hôn hoặc ly thân của hai vợ chồng. Tuy nhiên, cả hai luật này vẫn quy định nội dung của căn cứ ly hôn dựa vào “lỗi” của vợ, chồng; cùng với quan niệm coi hôn nhân là một hợp đồng dân sự. Theo đó, vợ, chồng có thể xin ly hôn hoặc ly thân: vì sự ngoại tình của bên kia; vì vợ, chồng bị kết án trọng hình về thường tội; vì sự ngược đãi, bạo hành nhục mạ có tính cách thậm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa; vì có phán quyết xác định sự biệt tích của người phối ngẫu; vì người vợ hoặc chồng đã bỏ phế gia đình sau khi có phán quyết xử phạt người phạm lỗi[8]. Đặc biệt, BLDS năm 1972 đã dự liệu: Vợ chồng có thể xin thuận tình ly hôn nếu hôn thú được lập trên hai (2) năm và không quá hai mươi (20) năm[9].

4.Quan điểm về ly hôn và căn cứ ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam từ năm 1945 đến nay – Ly hôn và căn cứ ly hôn theo Sắc lệnh số 159 – SL ngày 17/11/1950

Quy định về nội dung của căn cứ ly hôn dựa vào lỗi của vợ, chồng mới chỉ xem xét đến hình thức bên ngoài của quan hệ hôn nhân mà chưa phản ánh nội dung, bản chất của quan hệ hôn nhân đã thực sự cần phải chấm dứt hay chưa. Tuy nhiên, quy định này lại có ưu điểm là tránh được sự tùy tiện trong xét xử các vụ án ly hôn của Tòa án. Khi giải quyết ly hôn, nếu bên nguyên đơn (vợ, chồng) chứng minh rằng bên bị đơn (chồng, vợ) có lỗi, lỗi đó đã vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng theo luật định thì Tòa án có quyền xét xử cho vợ chồng ly hôn, mà không thể xử bác đơn ly hôn của đương sự.

Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, Hồ Chủ Tịch đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945). Trong bối cảnh Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời, Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện[10]. Theo đó, Sắc lệnh số 159 – SL ngày 17/11/1950 (Sắc lệnh số 159) của Chủ tịch nước quy định về ly hôn cũng đã quy định bảo hộ quyền tự do giá thú và tự do ly hôn bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng. Quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình đã bị xóa bỏ. Về căn cứ ly hôn, lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định những duyên cớ ly hôn bình đẳng giữa vợ chồng mà không phân biệt về phía người vợ, hay người chồng. Vợ, chồng có thể ly hôn vì một bên ngoại tình; vì một bên bị can án phạt giam; vợ, chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng; vì một bên mắc bệnh điên hay một bệnh khó chữa khỏi hoặc vợ chồng tính tình không hợp hay đối xử với nhau đến mức không thể sống chung được[11].

– Ly hôn và căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 1959, 1986, 2000

Nội dung của căn cứ ly hôn này vẫn còn được quy định dựa theo lỗi của vợ, chồng giống như những nguyên nhân, lý do ly hôn. Tuy vậy, trong điều kiện lịch sử nhất định, các quy định về ly hôn và căn cứ ly hôn theo Sắc lệnh số 159 đã thể hiện được bản chất của Nhà nước nhân dân, dân chủ và tiến bộ.

Sau năm 1954, trong bối cảnh đất nước ta còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị và hệ thống pháp luật khác biệt. Ở miền Bắc, cuộc cách mạng về ruộng đất được Nhà nước thực hiện đã góp phần xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến; xây dựng cơ sở kinh tế của hệ thống pháp luật mang tính dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đạo luật số 13 về HN&GĐ (Luật HN&GĐ năm 1959) được Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959, có hiệu lực thi hành từ ngày 13/01/1960 đã quy định những nội dung mới, mang tính dân chủ và tiến bộ hơn rất nhiều khi điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ. Vào giai đoạn này, quan điểm lập pháp của nhà làm luật Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ hệ thống pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu trước đây (Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Bun ga ri, Hung ga ri…). Học thuyết Mác Lênin về nhà nước và pháp luật là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật ở các nước XHCN. Theo đó, quan điểm cho rằng các quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ cần thiết phải được điều chỉnh bằng một luật riêng (Luật Gia đình, Luật HN&GĐ), mà không thể áp đặt cách thức điều chỉnh thuần túy của các quy phạm pháp luật dân sự mang tính chất tự nguyện, bình đẳng nhưng quá “sòng phẳng” theo kiểu trao đổi ngang giá hoặc có đền bù. Vì với những đặc điểm riêng, mang tính đặc thù của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ, yếu tố tình cảm yêu thương, gắn kết giữa các thành viên gia đình là cơ sở xây dựng gia đình tốt đẹp cho xã hội. Sự bền vững của gia đình phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tình cảm giữa những thành viên của gia đình; yếu tố tình cảm này là cái “gốc chuẩn” cho pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ. Bên cạnh đó, gia đình truyền thống Việt Nam luôn thể hiện sự yêu thương, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau giữa những thành viên của gia đình được xây dựng và gìn giữ tới ngàn đời nay; cần thiết phải xây dựng một luật riêng để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ. Với quan niệm và thực tiễn như vậy, từ năm 1959 đến nay trong hệ thống pháp luật Việt Nam luôn có văn bản luật riêng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ (Luật HN&GĐ).

Luật HN&GĐ năm 1959 thực hiện và bảo hộ quyền tự do hôn nhân của cá nhân, trong đó có quyền tự do ly hôn của vợ, chồng. Quyền ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng, theo pháp luật truyền thống ở Việt Nam, chỉ với tư cách là vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn.

Về căn cứ ly hôn, Luật HN&GĐ năm 1959 quy định về căn cứ ly hôn với nội dung hoàn toàn không dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ, chồng như trước đây. Luật quy định giải quyết ly hôn dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng đã tan vỡ. Theo quy định của Luật, dù vợ chồng thuận tình ly hôn hay một bên vợ, chồng có yêu cầu ly hôn, nếu hòa giải không thành và nếu xét thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới được xử cho ly hôn[12]. Quy định này đã tạo cho Tòa án cơ chế chủ động trong xét xử các vụ việc ly hôn ở Việt Nam. Giải quyết ly hôn chính xác, theo đúng bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ được coi là một trong những giải pháp nhằm củng cố các quan hệ gia đình trên cơ sở mới vững chắc hơn; hoàn toàn không nên hiểu là sự tự do tan vỡ gia đình.

Sau ngày miền Nam Việt Nam được giải phóng, đất nước thống nhất (30/4/1975), hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có Luật HN&GĐ năm 1959 được thực thi trên cả hai miền Nam, Bắc[13].

– Ly hôn và căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014:

Sự phát triển của các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và thực tiễn các quan hệ HN&GĐ ở Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) là nhu cầu khách quan để Nhà nước Việt Nam xây dựng và ban hành, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về HN&GĐ. Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ từ Luật HN&GĐ năm 1959. Nội dung của hai văn bản luật này có nhiều quy định mới so với Luật HN&GĐ năm 1959, nhằm phù hợp với cơ sở kinh tế của xã hội. Trong đó, về căn cứ ly hôn, cả hai văn bản luật này vẫn dự liệu giống với Luật HN&GĐ năm 1959, với nội dung pháp lý của căn cứ ly hôn đều không dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ, chồng mà dựa vào bản chất tan vỡ của quan hệ hôn nhân. Bên cạnh đó, với tiêu đề “căn cứ cho ly hôn”, Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện quan điểm chung, thống nhất trong cách hiểu, nhận thức áp dụng pháp luật về giải quyết ly hôn của Tòa án. Khi giải quyết ly hôn, Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy trình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Quy định như vậy đã bảo đảm sự thống nhất cả về lý luận và thực tiễn áp dụng.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ trong các văn bản Luật HN&GĐ năm 1986, 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 tiếp tục ghi nhận và bảo hộ quyền tự do hôn nhân của cá nhân, trong đó có quyền tự do ly hôn của vợ chồng. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2014 đã mở rộng phạm vi người có quyền yêu cầu ly hôn. Theo quy định của Luật, trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (bị mất năng lực hành vi dân sự), đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu ly hôn[14]. Quy định này xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội về HN&GĐ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng là người mất năng lực hành vi dân sự và là nạn nhận của bạo lực gia đình.

Về căn cứ ly hôn, khác với Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định về căn cứ ly hôn, mà quy định hai trường hợp ly hôn: Vợ chồng thuận tình ly hôn (Điều 55) và một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn (Điều 56). Điều này đã dẫn đến hai cách hiểu khác nhau về nội dung của căn cứ ly hôn.

– Cách hiểu thứ nhất: Trường hợp hai vợ chồng thuận tình ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn[15]. Như vậy, theo cách hiểu này, trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn, Tòa án không cần phải xem xét, đánh giá giữa vợ chồng có mâu thuẫn hay không; tình trạng vợ chồng đã trầm trọng hay chưa; mục đích của hôn nhân có đạt được hay không, mà chỉ cần xem xét và thấy rằng, vợ chồng đều thực sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn; không bị cưỡng ép, không bị lừa dối; vợ chồng đã thỏa thuận được với nhau về tài sản và việc giao con chưa thành niên cho một bên nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; quyền lợi chính đáng của vợ và con được bảo đảm thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng về tài sản và con chung. Nghĩa là, để giải quyết thuận tình ly hôn, cần phải có hai điều kiện cần và đủ: (1) ý chí thực sự tự nguyện thuận tình ly hôn của vợ chồng và (2) sự thỏa thuận về phân chia tài sản chung và thỏa thuận về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên.

Chúng tôi cho rằng, cách hiểu như vậy là không đúng với tinh thần của điều luật và thực tiễn giải quyết thuận tình ly hôn ở nước ta. Cần hiểu rằng, giải quyết ly hôn nói chung, thuận tình ly hôn giữa vợ chồng không chỉ bảo đảm lợi ích riêng tư của cá nhân vợ, chồng; mà còn có cả lợi ích của gia đình, của xã hội. Đặc biệt, về thủ tục tố tụng, từ trước đến nay, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khi giải quyết ly hôn (cả trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng) thì Tòa án đều phải tiến hành thủ tục hòa giải nhằm giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa vợ chồng để đoàn tụ gia đình. Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định căn cứ cho ly hôn được áp dụng đối với cả hai trường hợp ly hôn theo luật định (thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng). Điều đó cho thấy, ý chí thực sự tự nguyện ly hôn của vợ chồng không phải là một căn cứ ly hôn riêng biệt.

– Cách hiểu thứ hai: Có ba căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng, cụ thể là:

+ Nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được;

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn;

+ Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Cách hiểu này cũng không đúng với tinh thần của điều luật. Bởi lẽ, quy định về nội dung của căn cứ ly hôn từ Luật HN&GĐ năm 1959 đến nay đều hoàn toàn không dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ, chồng mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ. Trong mọi trường hợp ly hôn, nếu hòa giải không thành và nếu xét thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới được giải quyết cho ly hôn. Vấn đề giải quyết cho vợ chồng ly hôn chỉ là việc Tòa án ghi biên bản công nhận một quan hệ hôn nhân đã “chết”; hôn nhân “tự nó” đã bị phá vỡ rồi.

Trước đây, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTP-TANDTC) đã hướng dẫn về xác định, áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000, như sau:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.

5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt…”.

Sau hơn 05 năm thi hành và áp dụng Luật HN&GĐ năm 2014, nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2014[16], Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT ngày 06/01/2016 của TANDTC – VKSNDTC – BTP hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật HN&GĐ năm 2014 đều không quy định chi tiết hoặc hướng dẫn áp dụng về nội dung căn cứ ly hôn. Trong khi đó, thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn ở nước ta những năm qua cho thấy, thực trạng ly hôn phức tạp, số lượng các vụ việc ly hôn hàng năm ngày càng tăng cao; ly hôn với nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau. Tuy nhiên, việc xét xử ly hôn tại các Tòa án lại thiếu thống nhất. Tình trạng này dẫn đến hệ quả: Có vụ việc vợ chồng đã có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thương gắn bó đã hết, vợ chồng không thể cùng chung sống, mục đích hôn nhân đã không thể đạt được nhưng Tòa án lại không quyết định, giải quyết cho ly hôn; có vụ việc yêu cầu ly hôn do vợ, chồng chỉ vì tự ái, sĩ diện, miễn cưỡng xin ly hôn, hôn nhân chưa đến mức cần phải chấm dứt thì Tòa án lại vội vàng giải quyết cho ly hôn đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của vợ chồng,

Để khắc phục bất cập nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi Luật HN&GĐ năm 2014 theo hướng bổ sung quy định về căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn như quy định của Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000. Theo đó, Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định với nội dung thống nhất về căn cứ ly hôn cho các trường hợp ly hôn do luật định (thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng). “Căn cứ cho ly hôn: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”./.

[4] Xem: Sđd, tr.146.

[7] Xem: Sđd. Điều 56.

[9] Xem: Sđd, Điều 170.

Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân Mới

1. Quy định về căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. luật sư ly hôn, luat su ly hon, ly hon nhanh, ly hôn nhanh, luat su gioi

Theo khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Chế định ly hôn quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều điểm mới so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 như quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, căn cứ ly hôn, quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau ly hôn, giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn…Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định căn cứ cho ly hôn tại một điều luật riêng – Điều 89. Căn cứ cho ly hôn, theo đó có 02 trường hợp được coi là căn cứ cho ly hôn:

(1) Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn;

(2) Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. ly hôn, luat su ly hon, ly hon nhanh, ly hôn nhanh, luat su gioi

Đối với căn cứ (1) (Điều 89 khoản 1), tại mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP) hướng dẫn:

được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; hoặc vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhờ, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Thứ hai, để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Thứ ba, mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Đối với căn cứ (2) (Điều 89 khoản 2), thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau: luật sư ly hôn, luat su ly hon, ly hon nhanh, ly hôn nhanh, luat su gioi

Thứ nhất, người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

Trong khi đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định căn cứ cho ly hôn thành một điều luật riêng như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 mà chuyển quy định về căn cứ ly hôn vào trong quy định về thuận tình ly hôn (Điều 55) và ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 56). Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Như vậy, trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân, tức ly hôn. Ngoài ra, trong việc thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Toà án mới quyết định giải quyết việc ly hôn.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định ly hôn theo yêu cầu của một bên là căn cứ ly hôn tại Điều 56.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. 3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân. Theo đó, khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì Tòa án cần dựa vào một trong ba căn cứ sau đây:

căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. ly hon don phuong , ly hôn đơn phuong

căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

căn cứ ly hôn đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia (Là trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ) ly hôn nhanh, ly hon nhanh

Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe; quy định này góp phần giải quyết những bất cập của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. luat su ly hon gioi

Liên hệ luật sư ly hôn để tư vấn thêm:

HÃNG LUẬT PHÚ & LUẬT SƯ Điện thoại: (08) 2223 7476 – 0922 822 466Luật sư Nguyễn Văn Phú Email: phu.lawyers@gmail.com Website: www.phu-lawyers.comwww.phuluatsu.com

Dịch vụ luật sư của chúng tôi đa dạng, gồm những lĩnh vực chính như sau: luật sư dân sự, luat su dan su, luat su ly hon, luật sư ly hôn, luat su dat dai, luat su nha dat, luat su bao chua, luat su hinh su, luật sư bào chữa, luật sư hình sự, luật sư thừa kế, luat su thua ke, luật sư đất đai, luật sư nhà đất, luat su, luật sư, luật sư giỏi, luat su gioi, van phong luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, cong ty luat

Căn Cứ Để Tòa Giải Quyết Ly Hôn

Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ và chồng. Khác với việc kết hôn là dựa trên sự tự nguyện kết duyên giữa đôi lứa và được sự công nhận của pháp luật. Ly hôn là một sự kiện pháp lý được quyết định bởi Tòa án. Do đó, để Tòa án xem xét và căn cứ giải quyết ly hôn, thì sẽ phải đáp ứng những điều kiện sau đây.

Điểm khác nhau cơ bản giữa kết hôn và ly hôn đó là kết hôn dựa trên tinh thần tự nguyện của cả 2 phía. Còn đối với ly hôn, ngoài việc tự nguyện ly hôn của vợ chồng (pháp luật quy định là thuận tình ly hôn) thì việc ly hôn còn có thể bắt nguồn từ một phía và không có được sự chấp thuận của bên còn lại trong một số trường hợp (pháp luật quy định là Ly hôn theo yêu cầu của một bên). Đối với mỗi trường hợp ly hôn trong hai trường hợp trên, pháp luật quy định cụ thể những điều kiện để tòa án xem xét giải quyết ly hôn như sau:

Việc thuận tình ly hôn bắt nguồn từ ý chị tự nguyện ly hôn của cả vợ và chồng khi xét thấy cuộc hôn nhân không hạnh phúc và mục đích của hôn nhân không còn đạt được nữa. Khi đó, cả vợ và chồng sẽ cùng làm đơn nộp lên tòa án để được giải quyết việc thuận tình ly hôn. Điều kiện để tòa án chấp thuận thuận tình ly hôn đó là:

Sự tự nguyện của cả hai vợ chồng ở đây dựa trên ý chí chủ quan của mỗi người. Sự tự nguyện được thể hiện trên tinh thần tôn trọng quyền lợi của đối phương trong việc quyết định ly hôn mà không có bất kỳ sự ép buộc nào cả. Theo đó, mọi hành vi cưỡng ép, đe dọa của một bên đối với bên còn lại trong quan hệ hôn nhân nhằm ép buộc ký vào đơn thuận tình ly hôn là bất hợp pháp.

Đã thỏa thuận được về hướng giải quyết các vấn đề tài sản chung, quyền nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con cái

Việc tự nguyện ly hôn không nhằm trốn tránh, che dấu những nghĩa vụ khác

Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng đều tôn trọng sự tự nguyện, tự thỏa thuận của các bên tuy nhiên, nếu sự tự nguyện, tự thỏa thuận đó mà nhằm trốn tránh, che dấu những nghĩa vụ khác thì cũng được coi là bất hợp pháp. Trong những trường hợp như vậy, tòa án sẽ không xem sự tự nguyên ly hôn của hai bên là căn cứ để giải quyết ly hôn

Thực tế có rất nhiều những trường hợp các cặp vợ chồng làm ăn thua lỗ trong kinh doanh đã lợi dụng việc ly hôn để tẩu tán tài sản, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, pháp luật quy định điều kiện này nhằm ngăn chặn việc lợi dụng ly hôn để thực hiện những hành vi trái pháp luật.

2. Điều kiện ly hôn theo yêu cầu của một bên (đơn phương ly hôn)

Khác với thuận tình ly hôn, việc đơn phương ly hôn xuất phát từ ý chí của một bên trong mối quan hệ vợ chồng hoặc trong một số trường hợp nhất định, còn xuất phát từ việc cha mẹ, người thân thích của một bên có yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân. Để việc ly hôn được cụ thể hóa, cần phải đáp ứng những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Trong mối quan hệ hôn nhân, về mặt pháp luật thì vợ chồng có những quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhau trong đời sống hôn nhân, Nhìn chung những quyền lợi đó giựa trên thuần phong mỹ tục của xã hội cũng như những quan điểm tiên tiến trong hôn nhân của xã hội hiện đại. Trong đó, mọi hành vi bạo lực gia đình và vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ vợ chồng bị lên án mạnh mẽ và là một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới đổ vỡ trong hôn nhân. Hậu quả của những hành vi bạo lực gia đình và xâm phạm quyền và nghĩa vụ hợp pháp của vợ chồng đều dẫn tới việc khủng hoảng, bất hòa trong đời sống hôn nhân và việc sống chung sẽ đem đến sự đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần của một hoặc cả hai bên vợ chồng.

Do đó, nếu những trường hợp có hành vi bạo lực gia đình hoặc những hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì sẽ được Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Thứ ba, cha mẹ, người thân thích có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng bị tâm thần hoặc mất khả năng nhận thức và đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình

Tại Khoản 2, Điều 51 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.”

Pháp luật quy định những người bị tâm thần hoặc bị mất khả năng nhận thức sẽ không thể tự mình xác lập những hành vi dân sự và tố tụng dân sự. Như vậy thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì kể từ nay, căn cứ để cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam

Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay

Căn Hộ Giai Việt Residence

Căn hộ Giai Việt Residence ngay góc đường Tạ Quang Bửu – Phạm Hùng , Dự án căn hộ này là khu phúc hợp có cộng đồng dân cư văn minh hiện đại .Chánh Hưng Giai Việt được thiết kề 6 block chiều cao 30 tầng – tương đương 90m chiều cao với tổng diện tích 42.000m2 – mật độ xây dựng chỉ 25%.

CĐT chính thức nhận đặt giữ chỗ căn hộ Central Premium từ ngày 12/12/2016

Vị trí vàng ngay Cầu Nguyễn Tri Phương liền kề Quận 5

Môi trường sống hoàn hảo, Cộng đồng dân trí cao

“ĐẦU TƯ CHO CUỘC SỐNG CHẤT LƯỢNG”

Hãy gọi ngay cho chúng tôi để biết được thông tin chi tiết về Giá, chương trình bán hàng, phương thức thanh toán….

Tiện ích vược trội phân bố hợp lý, tầng 1 và 2 của tòa nhà dành làm trung tâm thương mại, nhà trẻ, mua sắm – 2 tầng hầm để xe rộng rãi, tiện lợi.

Thiết kế thông thoáng căn hộ này là căn hộ đầu tiên của dự án Giai Việt được chia nhỏ với diện tích 78-82-105-109m2.

Tòa Tháp đang bán là căn hộ Giai Việt Residence cao 30 tầng mỗi sàn 12 căn, hiện tại xây dự lên đến tầng 5.

Mặt bằng tầng 3 của Căn Hộ Giai Việt Residence với hai dãy căn hộ được chia thành 6 căn và diện tích không chênh lệch nhiều nên bạn không phải bận tâm với diện tích căn hộ.

Với các bố trí các phòng vô cùng hợp lý tiện lợi mang đến cho bạn những trải nghiệm vô cùng thú vị ngay chính tại căn hộ của mình.

Ở tầng 2 của Dự Án Căn Hộ Giai Việt Residence là sự kết hợp giữa tính cá nhân và cộng đồng nhờ sự có mặt có phòng sinh hoạt cộng đồng. Hầu như diện tích từng căn hộ của tầng 2 có diện tích như các tầng khác. Với hệ thống thang máy và thang bộ được bố trí ở những vị trí thuận tiện cho mọi người sử dụng.

Sự khác biệt của tháp Giai Việt Residence là diện tích căn hộ trên mỗi sàn được chia nhỏ so với thiết kế ban đầu. Căn hộ có hai phòng ngũ là diện tích 78 – 82 m2. 5 tòa tháp Hoàng Anh Gia Lai đã hình thành bàn giao căn hộ rôi thì chỉ có diện tích lớn và giá thành lại cao 24tr/m2. Căn hộ cao cấp này được xây dựng với vật liệu cao cấp, Phòng Bếp và Tollet hoàn thiện với trang thiết bị Ngoại nhập. Phòng Ngủ được lát sàn Gỗ mang lại sự ấm áp và sang trọng.

Nhìn chung Căn Hộ Mẫu của Căn Hộ Giai Việt Residence là sự kết hợp hài hòa giữa không gian nội thất mang tính thẫm mỹ và phong thủy cao. Được thiết kế giữa trên nền tảng khoa học và mang lại sự tiện nghi cho người sử dụng.

Những đặc điểm nổi bật của Căn Hộ Giai Việt Residence so với các căn hộ khác:

* Căn Hộ Cao Cấp Giai Việt Residence cho bạn cuộc sống vô cùng trong lành và yên bình với thiết kế chống ồn góp phần cải thiện sức khỏe tốt tránh được sự ồn ào và ô nhiễm nơi nội thành.

*Kiến trúc hài hòa đan xen giữa sự hiện đại văn mình và cuộc sống yên bình nơi thôn quê với thiết kế công viên rộng hơn 1000m2 giúp bạn đi bộ, tập thể dục thư giãn sau một ngày làm việc mệt nhọc hay bắt đầu một ngày mới tràn đầy năng lượng.

* Phòng GYM được thiết kế trong Căn Hộ Giai Việt Residence giúp bạn cải thiện sức khỏe qua những bài tập khoa học cùng với máy móc hiện đại và tiên tiến nhất, giúp bạn có được dáng vóc và thân hình đẹp nhất.

* Cuộc sống tại Căn Hộ Giai Việt Residence vô cùng tiện nghi với hệ thống siêu thị mini được xây dựng trong căn hộ.

*Bạn không phải bận tâm về nơi vui chơi giải trí của con trẻ khi mà Căn Hộ Giai Việt Residence luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu khi xây dựng thêm nhà trẻ và khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em.

Vì căn hộ Giai Việt là khu Phức hợp nên tiện ích vược trội Công Viên rộng 1000m2 và 3hồ Bơi được miễn phí dịch vụ. Phòng Gym, Spa, Trung Tâm Thương Mại.

+ Tặng ngay quà tặng hấp dẫn cho những khách hàng đầu tiên mua căn hộ.

+ Gía cả thấp nhất và cạnh tranh nhất.

+ Thoải mái lựa chọn vị trí đẹp mà không phải tốn thêm chi phí phát sinh nào.

+ Đội ngũ chuyên viên, nhân viên kinh doanh chuyên nghiệp am hiểu sâu sắc về phong thủy sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn cho khách hàng 24/24.

Quý khách hàng quan tâm về Giá Căn Hộ Giai Việt Residence gọi ngay Hưng Thịnh Land để được tư vấn miễn phí, chọn ngay vị trí đẹp

Mở bán khu dự án Giai Việt Residence – Chung cư cao cấp Quận 8 Ngân hàng VP Bank hỗ trợ vay lên đến 70% giá trị căn hộ Thanh toán linh hoạt trong vòng 10 – 15 năm Gọi ngay chủ đầu tư để có được giá tốt nhất từ dự ánHotline Quãn lý dự án : 0903754595 – 0988216220

Bạn đang xem bài viết Căn Cứ Ly Hôn Trong Pháp Luật Việt Nam trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!