Xem Nhiều 1/2023 #️ Lược Sử Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Hoà # Top 3 Trend | Duongveyeuthuong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lược Sử Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Hoà # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lược Sử Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Hoà mới nhất trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chùa Thiên Hoà tuy đã trùng tu, tái thiết và cải hiệu nhiều lần nhưng vẫn toạ lạc trên vị trí từ xưa đến nay. Nguyên địa danh lúc Tổ khai sơn là Ấp Tri Thiện, thôn Hoa Tây, tổng Vân Dương, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định. Nay là thôn Tri Thiện, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vị trí chùa về hướng Đông Nam thị trấn Bình Định, cách cầu Tân An 1 cây số về hướng Đông. Mảnh đất chùa hình chữ nhật 40m x 65m. Xưa kia chùa đứng độc lập nhưng nay dân cư đã sống canh quanh chùa.

II. KHAI SÁNG, CẢI HIỆU, TRÙNG TU

Chùa Thiên Hòa do Đức Tổ Viên Quang, tự Luật Phong, huý Pháp Tịnh khai sáng trên mảnh đất khoảng 2 sào do Phật tử thọ Ưu bà di giới pháp danh Toàn Đức tên Trần Thị Thìn cúng dường (chưa tìm được tài liệu tra cứu để biết thên về thân thế, sự nghiệp và sinh quán của cụ bà ở đâu, chỉ căn cứ vào cựu khế của chùa). Đầu tiên Tổ Pháp Tịnh lập một thiền thất hiệu là Khánh Thiện để tu và truyền bá Thiền tông. Ngài Pháp Tịnh lập thiền thất vào năm nào ta chưa có sử liệu tra cứu để biết chắc chắn nhưng căn cứ vào tài liệu về những thế hệ tương đương và những tự viện chư Tổ sáng lập đương thời với Ngài, chúng ta dự đoán Thiền thất Khánh Thiện (tiền thân chùa Thiên Hoà) được sáng lập vào những năm của niên hiệu Vĩnh Thạnh – từ năm 1705 đến năm 1719. Không những cúng đất, Phật tử Toàn Đức còn cúng một Đại Hồng Chung và phát nguyện tái thiết Thiền thất Khánh Thiện với hiệu được cải là Hưng Thiện Tự. Khi Phật sự viên thành Ngài phi tích vào Nam hoá đạo.

Sau đó, Tổ Chánh Trực, húy Hải Yến được thiện tín cung thỉnh về trú trì chùa Hưng Thiện. Đến năm Giáp Ngũ (1774), niên hiệu Cảnh Hưng, năm thứ 35, Ngài tái thiết chùa Hưng Thiện và cải hiệu thành Thiên Hoà Tự cho đến ngày nay.

Năm Mậu Tuất (1778) từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 4, Ngài Chánh Trực cùng thiện tín, sắc hào, binh sĩ, cung thỉnh Hoà thượng Thiên Khánh, huý Tánh Tôn, đương kim trú trì Tổ đình Long Khánh, Quy Nhơn, quang lâm chứng minh Đại lễ Trai đàn 3 ngọ, đúc lại quả Đại Hồng Chung, hiện còn tại chùa (quả Đại Hồng Chung do Phật tử Toàn Đức cúng đã bị vỡ trong cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn).

Năm Tân Mão (1891) niên hiệu Thành Thái thứ 3, dưới sự chứng minh của Tổ Chương Hiệp, Ngài Ấn Bình đã tái thiết lại ngôi Tam Bảo Thiên Hoà. Nước gỗ của chùa hiện nay và toàn bộ hoành, liễn, trướng, đối đều do Ngài Ấn Bình hiệu Bửu Quang sáng tạo.

Đến Ngài Trí Thắng, huý Chơn Cảnh trú trì thì chùa bị hỏa hoạn vào năm Nhâm Tuất (1922). Lúc đó, Ngài đứng ra xin đơn phổ khuyến. Đến ngày 15 tháng 4 năm Quý Hợi (1923) Ngài khởi công tái thiết lại toàn bộ ngôi Tam Bảo Thiên Hoà, bằng vật liệu nhẹ, đượm vẻ trang nghiêm cổ kính.

Ngoài ra, chùa còn được thay tranh lợp ngói vào năm Kỷ Hợi (1959) do thầy Chơn Huệ thực hiện. Để có tài chánh tu sửa, thầy đã bán 2 mẫu 6 sào ruộng của chư Tổ mua để lại cho chùa (thiên thu hương yên kỵ lạp) và ¼ vườn chùa. Thời gian sau này, các pháp khí cũng bị mất do nhiều nguyên nhân không rõ.

1. Tổ khai sáng: Khai sáng chùa Thiên Hoà là Ngài Viên Quang, tự Luật Phong, huý Pháp Tịnh, đời 36. Ngài là đệ tử Tổ Ân Triêm, tự Chánh Hiển, huý Thiệt Dinh, sáng lập Tổ đình Phước Lâm tại Hội An, Quảng Nam. Ngài Viên Quang đến lập Thiền Thất tính đến nay (1986) gần 300 năm. Rất tiếc không có sử liệu để biết thân thế, sự nghiệp, tánh danh và sanh chánh quán của Ngài.

Long vị thờ của Ngài tại chùa Thiên Hoà, không ghi năm sinh, thị tịch, mà chỉ ghi kỵ Ngài ngày mùng 8 tháng 2 hàng năm và bảo tháp cung phụng Ngài hiện ở chùa nào trong Nam chưa truy tầm.

2. Kế thừa: Tổ Chánh Trực, huý Hải Yến, đời 40 (Theo Pháp phái Tổ Thiệt Diệu, Tổ đình Thiền Tôn, Huế. Ngài là đệ tử của Tổ Thiên Khánh, huý Tánh Tôn, đời 39, Tổ đình Long Khánh, Quy Nhơn. Ngài Chánh Trực là vị Tổ đóng góp nhiều công đức nhất. Ngoài công đức tái thiết, trùng tu, cải hiệu, đúc Đại Hồng Chung, Ngài còn mua 1 mẫu 5 sào 7 thước 5 tất đất trồng dâu, theo cựu khế ghi Thiên Hoà Tam Bảo tự điền.

Long vị thờ của Ngài tại chùa không ghi rõ ngày tháng năm sanh và thị tịch, nên hằng năm kỵ Ngài vào ngày kỵ Tổ Khai sơn.

3. Kế thừa: Ngài Tịnh Quang – đệ tử cầu pháp của Tổ Chánh Trực – theo cựu khế, có công khai phá bãi sa bồi trước mặt chùa thành đất sản xuất hoa màu (tục gọi soi chùa). Trong đời trú trì của Ngài, có Phật tử thọ Ưu bà di giới pháp danh Chương Lạc, tên là Lê Thị Thường, sinh quán ấp Luật Chánh, huyện Tuy Phước cúng 7 sào 8 thước đất trồng dâu và 2 Phật tử Bùi Văn Nguyện, Lê Thị Điền cúng 10 thước 5 tất đất vườn chùa – theo cựu khế ghi niên hiệu Minh Mệnh thứ 21, Canh Tý (1840) – Long vị Ngài thờ tại chùa.

4. Kế thừa: Ngài Chánh Nhơn, huý Ấn Bảo, đời 39. Ngài trú trì dưới sự giám hộ của Bổn sư là Tổ Chương Hiệp. Đời Ngài không có tự tích, công đức đặc biệt. Ngài sinh năm Kỷ Hợi (1889) thị tịch giờ Hợi, ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Ngũ/Ngọ (1932), thọ 44 tuổi, tháp Ngài hướng Tây Bắc chùa.

5. Kế thừa: Ngài Bửu Quang, huý Ấn Bình, tự Như Cẩn sinh chánh quán ấp Lương Lộc, huyện Tuy Phước, thế danh Nguyễn Như Cẩn. Dòng dõi của Ngài đều tôn sùng Đạo Phật. Ngoài công đức trùng tu, tái thiết, năm Mậu Tuất (1898) niên hiệu Thành Thái thứ 10, Ngài mua 5 sào 5 thước đất trồng dâu (theo cựu khế ghi Thiên Hoà Tam Bảo tự điền). Ngài rất rành y dược, dịch lý, toán số, Ngài mở trường gia giáo. Đồng sư của Ngài có: Ngài Chí Thành, huý Ấn Phước sáng lập chùa Tây Thiên, huyện An Nhơn, Ngài Ấn Sinh, Ấn Đoan trú trì chùa Phổ Bảo. Quý Ngài chữ Ấn đều là đệ tử của Tổ Chánh Trì (Tổ Chánh Trì là đệ tử Tổ Toàn Ý đời 37, sáng lập Tổ đình Phổ Bảo). Ngài Ấn Bình sinh năm Quý Hợi (1863), tịch giờ Tỵ ngày 27 tháng Giêng năm Tân Dậu (1921) thọ 58 tuổi. Tháp Ngài hướng Đông Nam chùa Thiên Hoà.

Trong thời gian Ngài Ấn Bình trú trì, Ngài cung thỉnh Ngài Chương Hiệp về an dưỡng tại chùa Thiên Hoà. Ngài Chương Hiệp khai sơn chùa Huỳnh Long, ấp Huỳnh Mai. Ngài sinh năm Quý Tỵ (1833) tịch ngày 4 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1911) thọ 78 tuổi. Tháp Ngài hướng Đông Nam chùa Thiên Hoà.

6. Kế thừa: Ngài Trí Thắng, húy Chơn Cảnh, đời 40, đệ tử Tổ Ấn Bình, thế danh Nguyễn Khắc Đôn. Ngài sinh chánh quán ấp Lương Lộc. Trong đời trú trì của Ngài, năm 1922 chùa bị hỏa hoạn. Năm 1923, Ngài phổ khuyến và tái thiết toàn bộ chùa. Năm Bính Dần (1926) Quản Đạo tỉnh Ninh Thuận thỉnh Ngài đứng sáng lập chùa Thiên Hưng, ấp Văn Sơn, Phan Rang. Ngài rành Hán, Việt, Pháp, Y dược, Dịch lý. Ngài sinh năm Tân Mão (1891), tịch giờ Ngọ, ngày 13 tháng 5 năm Ất Mão (1975) thọ 85 tuổi. Tháp Ngài ở hướng Đông Bắc chùa Thiên Hưng, Phan Rang.

7. Kế thừa: Đại Đức Thích Vĩnh Thạnh, tự Cát Bảo, húy Như Tuyên, đời 41, đệ tử Ngài Chơn Diệp chùa Thiên Trúc, huyện Tuy Phước. Thầy trú trì nổi tiếng vì sản xuất kinh tế tự túc, không có tự tích tái thiết, tạo mãi gì lưu lại. Long vị thờ của Thầy cũng không ghi năm tháng ngày giờ thị tịch. Tháp Thầy hướng Đông Nam vườn chùa.

8. Kế thừa: Đại Đức Thích Quảng Nguyên, huý Chơn Huệ (sau cầu pháp với Ngài Chơn Tịnh, hiệu Cao Minh, sáng lập chùa Tịnh Liên – An Nhơn), đời 41, thế danh Phạm Thông, sinh chánh quán tại thôn Tri Thiện, xã Phước Quang. Đại Đức trú trì năm Quý Dậu (1933) và đến năm Kỷ Hợi (1959) cho thay tranh lợp ngói. Đến ngày 20 tháng 11 năm Nhâm Tý (25-12-1972) vì tuổi già cáo bệnh, thầy mời chư tăng Môn phái về giao Tổ đình Thiên Hoà lại để Môn phái trạch cử trú trì khác. Môn phái đã mời Đại Đức Thích Đỗng Quán về trú trì, kế thừa Tổ đình Thiên Hoà.

Đại Đức Quảng Nguyên sinh năm Giáp Thìn (1904) tịch giờ Sửu ngày 26 tháng 3 năm Quý Sửu thọ 70 tuổi. Tháp ở phía Đông Nam chùa Thiên Hoà.

9. Kế thừa: Hoà thượng Thích Đỗng Quán, tự Hạnh Nhơn, huý Thị Quảng, đời 42, đệ tử Đại lão Hoà thượng Thích Huyền Tân, huý Như Thọ, trú trì chùa Thiền Lâm, Phan Rang.

Tổ đình Thiên Hoà từ nội viện cho đến ngoại viện được chỉnh đốn khang trang như ngày nay đều do công đức lớn lao của Hoà thượng.

Hoà thượng Thích Đỗng Quán sinh năm Bính Dần (1926) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Hoà thượng là người quảng bát, hoạt động Phật sự không biết mệt mỏi, danh tiếng trong và ngoài nước biết đến.

Hoà thượng thị tịch ngày 26 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (2009), thọ 84 tuổi, tháp Ngài toạ lạc trước mặt chùa về hướng Đông Nam.

Tổ Đình Thiên Hoà từ Tổ Pháp Tịnh khai sơn cho đến nay, Tổ Tổ tương truyền, hiện còn tự tích minh bạch. Trải qua các thế hệ đều được sự hỗ trợ của hương quyền, tộc thuộc các phái với tư cách là những Phật tử thuần thành.

(Bản soạn năm 1985 – có sửa đổi đôi chút)

Tổ Đình Sắc Tứ Từ Quang Tự – Trung Tâm Phật Học Miền Trung Cuối Thế Kỷ Xviii – Đầu Thế Kỷ Xx – Phật Giáo Sông Cầu

Tìm về Bạch Thạch, A Lan Nhã

Dưới gốc Xoài già, hỏi sư đâu

Rằng kia lời pháp vang trong gió

Đá Trắng vô tri cũng gật đầu.

Tổ Đình Sắc tứ Từ Quang Tự được Tổ Diệu Nghiêm khai sơn vào cuối thế kỷ 18. Xuyên suốt thời gian, cho đến đầu thế kỷ 20, ngôi chùa không những là một Trung tâm Phật học của tỉnh Phú Yên, mà còn là nơi để Tăng chúng miền Trung tìm về tu học. Vì nơi đây, có nhiều bậc danh Tăng, uyên thâm Phật học, tinh nghiêm giới luật, đức hạnh sáng ngời, trong đó có vị xuất thân từ Hoàng Gia. Ngôi Tổ Đình này đã từng gắn liền với cuộc đấu tranh chống thực dân, của người dân Phú Yên trong thời kỳ chống Pháp.

Theo quốc lộ 1A, đến dốc vườn Xoài, nhìn về phía Tây, du khách sẽ thấy cổng Tam Quan của ngôi cổ tự Từ Quang. Chùa tọa lạc tại thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Diện tích đất chùa khoảng 10.000m2.

Để đến chùa, du khách phải trải nghiệm bộ hành trên con đường đá cổ, với chiều dài khoảng 500m, rất độc đáo đã có từ ngày xưa, đây là con đường đá còn lại duy nhất của tỉnh Phú Yên.

Đi hết con đường đá, du khách sẽ dừng chân trước cổng Tam Quan rêu phong cổ kính, trước là để nghỉ ngơi, sau là để lắng lòng, chiêm ngưỡng toàn cảnh ngôi cổ tự. Ngôi cổ tự Từ Quang ẩn hiện thấp thoáng trong vườn xoài, phong cảnh thoáng mát, thâm u tĩnh mịch, làm cho lữ khách quên hết mệt nhọc khi đặt chân đến nơi này. Thật là:

Lên đây rũ sạch ưu phiền

Dẫu chưa là Phật, cũng tiên cõi trần.

Cổng Tam Quan ngôi cổ tự có tuổi đời hơn 100 năm, được xây dựng bằng vật liệu đá núi và vôi vữa, kiến trúc đơn giản mộc mạc, đặc trưng của nghệ thuật miền Trung. Đây là một trong hai cổng chùa cổ còn lại ở vùng Bắc Phú yên (cổng còn lại là chùa Phước Long, Xuân Lộc).

Qua khỏi cổng Tam Quan, lữ khách sẽ gặp bức bình phong, phía sau bức bình phong là khoảng sân rộng.

Ngôi Chính Điện được xây dựng với kiến trúc cổ lầu, mái đao cong vút. Dưới mái chùa là hàng chữ Sắc tứ Từ Quang Tự, bên phải là hàng chữ Bạch Thạch Sơn (núi Đá trắng), bên trái là hàng chữ A Lan Nhã (chốn Thanh tịnh) được gắn bằng những mãnh thủy tinh màu xanh ngọc.

Trước chùa có hai câu đối:

Từ ấm nhơn thiên ẩn ước bán không khai ngọc vũ

Quang đằng thế giới lung linh hội xứ hiển kim thân

Dịch:

Từ che trời người, giữa từng không ẩn hiện điện ngọc

Quang trùm thế giới, nơi đạo tràng lung linh kim thân.

Trong đại hùng Bảo Điện, tôn thờ tượng Đức Bổn Sư Thích Ca, hai bên là bồ tát Quan Âm và bồ tát Địa Tạng. Trong Bảo Điện vẫn còn lưu giữ Đại Hồng Chung nặng khoảng 100 kg, được hòa thượng Pháp Ngữ đúc tại Huế, vào năm Duy Tân thứ 9 (1915).

Phía sau Bảo Điện là gian thờ Tổ, thờ Tổ Đạt Ma và lịch đại cao Tăng trụ trì qua các đời. Đặc biệt chùa còn lưu giữ bộ y xưa (Được cho rằng, Triều Đình Tây Sơn ban tặng cho Tổ khai sơn Diệu Nghiêm).

Từ Quang cổ Tự được kiến lập trên đồi núi, phía Tây chùa là những tảng Đá trắng, với nhiều hình thù kỳ dị, nên dân địa phương thường gọi là chùa Đá Trắng. Chùa hướng mặt ra phía Nam, xa xa là dòng sông Ngân Sơn, nơi có làng Quảng Đức với nghề gốm thủ công nổi tiếng ngày xưa; cạnh đó là làng Bạc Mã-Quê Hương của Tổ sư Liễu Quán. Liên kết các địa danh này lại, nên dân Phú Yên có câu:

Cam Xuân Đài,

Xoài Đá Trắng,

Sắn Phường Lụa,

Cua đầm Ô Loan.

Sau lưng chùa dựa núi Bạch Thạch, tạo thế vững chắc cho ngôi cổ tự, đây là điểm khác biệt của những ngôi Tổ Đình tại Phú Yên.

Ngôi chùa được bao quanh bởi những cây xoài cổ, có tuổi đời hơn thế kỷ, tuy đã gìa cỗi nhưng vẫn còn xanh tốt. Đặc biệt giống xoài này, được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là giống xoài hiếm, mà chỉ nơi này mới có được. (Tương truyền giống xoài này còn có tên là xoài Ngự, xoài Tiến, vì mỗi năm các Quan địa phương cho người về Chùa kiểm số xoài thu hoạch, rồi chuyển ra kinh Đô cho nhà vua). Năm 2014, những “cụ xoài” này được công nhận cây di sản quốc gia.

Phía Tây ngôi chùa là vườn Tháp Tổ, nơi lưu giữ nhục thân của lịch đại cao Tăng.

Tổ Đình Từ Quang được Tổ húy Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, dòng Lâm Tế Chúc Thánh, đời thứ 36, khai sơn vào năm Đinh Tỵ (1797), cuối thời Tây Sơn. Sau khi du hóa khắp nơi để truyền đạo, Tổ dừng chân tại núi Đá Trắng, lập thảo am tu hành và chú giải kinh Hoa Nghiêm. Bốn năm sau, cơ duyên đầy đủ, từ một thảo am nhỏ, Tổ đã kiến tạo thành ngôi A lan nhã trang nghiêm.

Năm Thành Thái nguyên niên (1889), chùa được ban Sắc tứ Từ Quang Tự.

Đến năm 1929, chùa bị hỏa hoạn, các công trình kiến trúc và những bảo vật được Triều Đình ban tặng, hóa thành tro bụi. Về sau, ngôi chùa được hòa thượng Pháp Ngữ trùng tu lại trên nền móng cũ.

Đến đời Ngài Phước Hộ trụ trì, thì chiến tranh xảy ra, Ngài cùng Tăng chúng tạm di tản qua các tự viện khác, ngôi chùa bị bỏ hoang trong một thời gian.

Sau năm 1975, Đất Nước thống nhất. Cho đến năm 1989, hòa thượng Phước Trí và thượng tọa Thiện Tu, đại trùng tu lại ngôi Tổ Đình nên có diện mạo như ngày hôm nay.

Trụ trì hiện nay là hòa thượng Thích Đồng Tiến và giám tự là đại đức Thích Chúc Thuận.

Được biết, dòng Lâm Tế Chúc Thánh truyền vào Phú Yên bởi Ngài Thiệt Lãm, hiệu Chí Kiên, vị khai sơn hai ngôi chùa Thiên Hưng và Bảo Sơn Thiên Hải, Tuy An, Phú Yên.

Sau khi, Tổ Thiệt Lãm viên tịch tại chùa Thiên Hưng, Tuy An thì không có đệ tử thừa kế, nên thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh không được truyền bá rộng rãi.

Đến khi Tổ Diệu Nghiêm dừng bước du hóa tại Bạch Thạch sơn (núi Đá Trắng), khai sơn chùa Từ Quang thì dòng Lâm Tế Chúc Thánh mới thật sự phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng toàn miền Trung vào cuối thế kỷ 18.

Tổ Diệu Nghiêm là bậc kiến văn quảng bác, đạo phong sáng lạng, nên hàng đệ tử thọ giáo rất đông. Ngài nổi tiếng có đến hai mươi tám vị đệ tử, các vị này đều là bậc Long Tượng trong Phật pháp như: Ngài Toàn Nhật – Quang Đài, trụ trì chùa Viên Quang, để lại nhiều tác phẩm cho đời, được viết bằng chữ Hán và Nôm. Ngài Toàn Thể – Linh Nguyên, người Bình Định, đã tìm về tu học với Ngài Diệu Nghiêm, được kế vị trụ trì đời thứ 2, tại Tổ đình Từ Quang – Đá Trắng. Ngài Toàn Đạo – Viên Đàm, vị trụ trì chùa Đức Xuân. Ngài Toàn Đức – Thiệu Long, trụ trì chùa Khánh Sơn. Ngoài ra, còn có các Ngài cầu pháp với Tổ Diệu Nghiêm như: Toàn Chiếu – Bảo Ấn trụ trì chùa Thiên Ấn – Quảng Ngãi, Ngài Toàn Thái – Phước Long chùa Linh Sơn – Bình Định, Toàn Ý – Phổ Huệ khai sơn chùa Phổ Bảo – Bình Định, Toàn Tín – Đức Thành khai sơn chùa Khánh Lâm – Bình Định….

Ngài Diệu Nghiêm được giáo sư Lê Mạnh Thát đánh giá là nhà văn hóa của xứ đàng trong, tề danh với nhà bác học Lê Quý Đôn vào thời điểm đó ở xứ đàng ngoài. Nếu như nhà bác học Lê Quý Đôn để lại cho đời rất nhiều tác phẩm như: Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Đại Việt sử ký tục biên,… thì Ngài Diệu Nghiêm cũng để lại cho đời nhiều tác phẩm đồ sộ không kém nhà bác học Lê Quý Đôn, các tác phẩm của Ngài: Tam bảo biện hoặc luận, Đại học chi thư, Đại phương tiện Phật báo ân kinh chú nghĩa,….

Đến thế hệ sau Tổ Diệu Nghiêm, cũng xuất hiện nhiều bậc cao Tăng thạc đức, được các nơi tìm về tu học như: Ngài Pháp Thân tu học với Ngài Huệ Nhãn. Ngài Phước Huệ học với Ngài Pháp Hỷ. (Các tư liệu ở Bình Định khi viết về tiểu sử Ngài Phước Huệ, đều chép rằng Ngài học với tổ Pháp Chuyên, đây là sự nhầm lẫn, vì Tổ Pháp Chuyên đã viên tịch trước đó khá lâu).

Cũng giai đoạn này, Ngài Huệ Nhãn, Ngài Pháp Ngữ, Ngài Pháp Ngãi, Ngài Pháp Hỷ cũng thường xuyên được mời ra Thuận Hóa, hoằng dương Phật pháp và được Triều Đình, Hoàng Gia trọng vọng.

Các Ngài tu học tại chùa Từ Quang, về sau đều là danh Tăng, Tòng lâm thạch trụ của Phật pháp.

Để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận giới pháp cho giới tử toàn miền Trung, Tổ Đình Từ Quang nhiều lần mở các đại giới đàn. Lần gần nhất giới đàn được tổ chức vào tháng 7 năm 1906 (Bính Ngọ), do hòa thượng Pháp Tạng, trụ trì Tổ Đình Phước Sơn làm đàn đầu.

Đặc biệt nơi Tổ Đình này, từ khi Tổ Diệu Nghiêm khắc mộc bảng, ấn loát kinh sách, đến thế hệ sau này, cũng theo hạnh của Tổ cho ra đời các mộc bảng tam tạng, được gọi là “Từ Quang tàng bảng”. Mộc bảng này, đã được ấn loát, cho ra đời những tập kinh, luật, chú giải, được truyền bá khắp nơi, trong đó có miền Trung và miền Nam.

Tổ Đình Từ Quang là nơi xuất hiện nhiều bậc cao Tăng thạc Đức. Ngoài ra nơi này, còn lưu giữ những tác phẩm quan trọng về Phật học của Ngài Diệu Nghiêm, để các nơi khác tìm về đây nghiêm cứu và tu học.

Sau khi chúa Nguyễn thành lập xứ đàng trong, vì không muốn phụ thuộc vào văn hoá miền Bắc nên đa phần đều tiếp nhận Phật Giáo Trung Hoa. Thời kỳ đầu, phần nhiều các vị sư đều là người Trung Hoa, trong đó có vị được mời hoặc tự sang truyền đạo như: Ngài Thạch Liêm, Ngài Nguyên Thiều, Ngài Giác Phong, Ngài Tế Viên….

Cho đến khi, Tổ Diệu Nghiêm xuất hiện. Ngài đã dịch thuật, chú giải về Phật học, và cho ra đời những tác phẩm, thì giống như một làng gió mới thổi vào tư tưởng Phật học thời điểm đó. Tác phẩm quan trọng nhất và hấp dẫn là “Tam bảo biện hoặc luận”, đây là tác phẩm ghi lại cuộc tranh luận với tư tưởng nho giáo nhằm xiểng dương Phật Giáo. Ngài sáng tác rất nhiều thể loại như: Thơ (Diệu Nghiêm Lão Tổ Thi Tập), Văn có 4 tác phẩm: (Tam Bảo Biện Hoặc Luận, Chiết Nghi Luận Tái Trị, Thiện Ác Quy Cảnh Lục, Tam Bảo Cố Sự), Chú giải có (Báo Ân Kinh Chú Giải, Địa Tạng Kinh Chú Giải, Quy Nguyên Trực Chỉ Âm Nghĩa, Tỳ Ni – Sa Di – Oai Nghi- Cảnh Sách Âm Chú Yếu Lược), Từ điển có, 2 tập từ điển triết học: (Tam Bảo Pháp Số, Tam Bảo Danh Nghĩa), nghi lễ ( Chư Kinh Sám Nghi, Hoằng Giới Đại Học Chi Thư, Phật Tổ Đích Truyền Nhất Thống). Như vậy, Phật Giáo Việt Nam, nếu chọn ra một cái tên cho danh xưng “Tam tạng Pháp Sư” thì không ai sánh bằng được Ngài Diệu Nghiêm.

Các tác phẩm đó, được Ngài và thế hệ đệ tử, khắc thành mộc bảng để lưu thông nhưng vì nhiều điều kiện không cho phép nên không thể ấn loát với số lượng nhiều cho nên các nơi tìm về đây tu học cũng là điều tất nhiên.

Xuyên suốt thời gian cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, không có vị nào sáng tác nhiều tác phẩm Phật học như Tổ Diệu Nghiêm. Những vị nào, sáng tác hay chú giải kinh điển, nhiều lắm cũng vài ba tác phẩm, kể cả Phật Giáo miền Bắc vào thời điểm đó, đây quả thật là niềm tự hào cho chùa Từ Quang và Phật Giáo Phú Yên.

Đặc biệt tại Tổ Đình Từ Quang là nơi Ngài Toàn Nhật – Quan Đài xuất gia tu học, trước khi về trụ trì chùa Viên Quang, Ngài nổi tiếng về Văn, Thơ, trong đó có cả chữ hán và chữ nôm. Cho  nên, Tăng chúng Phú Yên khi khắc mộc bảng ấn loát kinh điển đều xin Ngài cho lời bạc.

Đến các đời trụ trì sau này, các Ngài cũng dựa trên những tác phẩm của Tổ Diệu Nghiêm mà tham cứu, học tập, và trở thành danh sư.

Sắc tứ Bạch Thạch Sơn – Từ Quang A Lan Nhã trải qua các đời trụ trì.

Tổ húy Pháp Chuyên – tự Luật Truyền – hiệu Diệu Nghiêm.

Tổ Diệu Nghiêm sinh quán tại tỉnh Quảng Nam, xuất gia tu học với Ngài Thiệt Dinh – Ân Triêm. Ngài thọ giới cụ túc tại đại giới đàn chùa Bảo Lâm với hòa thượng Hải Điện. Sau 5 năm tu học với bổn sư, Ngài xin đi tham học với Tổ Thiệt Kiến – Liễu Triệt tại chùa Thập Tháp, Bình Định. Ở đây, Ngài tham cứu hết toàn bộ đại Tạng kinh. Tổ Diệu Nghiêm tùy cơ thuyết pháp theo nhu cầu của các đạo tràng và chuyên giảng về các kinh như: kinh Địa Tạng, Quy Nguyên trực chỉ, Pháp Hoa, Long Thơ Tịnh Độ, Sa Di Oai Nghi tăng chú…. Sau đó, Ngài đi hoằng hóa khắp nơi, từ Thừa Thiên vào Phú Yên.

Năm 1793, Ngài đến núi Bạch Thạch lập thảo am tu hành. Năm 1796, Ngài khai đàn truyền giới cho 200 giới tử. Đến năm 1797, Ngài chính thức khai sơn chùa Từ Quang. Năm 1798, Hoàng Thái Hậu thỉnh Ngài về kinh chứng minh đúc đại Hồng Chung. Sau khi pháp sự viên thành, Ngài được ban Cà sa Sắc tía, hiện nay vẫn còn thờ ở chùa Từ Quang. Ngày 15 tháng 5, Ngài trở về Phú Yên, tổ chức trai đàn bạt độ và truyền giới cho 100 giới tử.

Vào ngày 17 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1798), Ngài an nhiên thị tịch, trụ thế 73 tuổi. Ngài để lại bài kệ phú pháp cho Tăng chúng.

Lai nhi vị tằng lai

Khứ nhi vị tằng khứ

Khứ lai bổn như như

Như như hoàn lai khứ

Dịch:

Đến mà chưa từng đến

Đi cũng chẳng từng đi

Đến đi vốn như như

Như như lại đi đến.

Tổ để lại cho đời những tác phẩm rất quan trọng như: Đại học chi thư, Quy nguyên trực chỉ chú nghĩa….

Đệ tử đắc pháp của Tổ Diệu Nghiêm có 28 vị như: Ngài Toàn Thể – Vi Lương – Linh Nguyên, thừa kế trụ trì đời thứ 2, chùa Từ Quang. Ngài Toàn Đức – Vi Cần – Thiệu Long, trụ trì chùa Khánh Sơn. Ngài Toàn Đạo – Viên Đàm, trụ trì chùa Đức Xuân. Ngài Liễu Diệu – Chánh Quang, khai sơn chùa Triều Tôn.

Đặc biệt là Ngài Toàn Nhật – Vi Bảo – Quang Đài, trụ trì chùa Viên Quang là pháp sư nổi tiếng đương thời, để lại rất nhiều tác phẩm chữ hán lẫn chữ nôm như: Hứa sử truyện vãn, Thiền cơ ngộ đạo, và nhiều thơ văn đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của người dân Phú Yên vào thời điểm đó.

Trong đó có Hứa sử truyện vãn có thể sánh ngang với truyện Kiều của Nguyễn Du.

Hòa thượng húy Toàn Thể – tự Vi Lương – hiệu Linh Nguyên (1765-1844)

Ngài họ Nguyễn,`sinh tại Phú Yên, xuất gia tu học với Tổ Diệu Nghiêm. Trong hàng đệ tử đắc pháp, Ngài là người xuất sắc nhất nên được chọn làm trưởng tử thừa kế trụ trì đời thứ 2, chùa Từ Quang. Ngài tiếp tục phát huy hoằng pháp độ sanh theo đại nguyện của bổn sư để lại. Chính Ngài đã chép lại sự tích của Tổ Diệu Nghiêm qua tác phẩm “Pháp chuyên luật truyền diệu nghiêm thiền sư nhân do sự tích chí”.

Vào ngày mùng 3 tháng 3 năm Giáp Thìn (1844), Ngài viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Tháp Ngài được xây dựng trong khuôn viên chùa Đá Trắng.

Đệ tử nối pháp của Ngài rất nhiều như: Quảng Nhuận, Quảng Văn, Quảng Bình, Quảng Giác…

Hòa thượng húy Chương Niệm – tự Tuyên Trực – hiệu Quảng Giác

Ngài là đệ tử Tổ Linh Nguyên, được bổn sư lập cử thừa kế trụ trì chùa Từ Quang đời thứ 3. Sau khi thừa kế bổn sư trụ trì, Ngài tiếp tục công việc khắc mộc bản kinh sách cho chùa Từ Quang.

Hòa thượng húy Ấn Từ – tự Tổ Đức – hiệu Huệ Viễn

Ngài là đệ tử của ngài Quảng Giác, bẩm tính thông minh hiếu học, tài đức vẹn toàn nên được bổn sư chọn thừa kế trụ trì đời thứ 4, chùa Từ Quang.

Hòa thượng húy Ấn Thiên – tự Tổ Hòa – hiệu Huệ Nhãn

Sau khi Tổ Huệ Viễn viên tịch, không đệ tử kế vị. Ngài Huệ Nhãn được Tông môn cung thỉnh trụ trì chùa Từ Quang đời thứ 5 (lúc đó Ngài đang trụ trì Tổ Đình Phước Sơn). Trong thời gian trụ trì, Ngài làm con đường đá từ quốc lộ lên đến chùa, công trình này hiện nay vẫn còn.(Tiểu sử Ngài Huệ Nhãn được ghi rõ trong bài Tổ Đình Phước Sơn)

Hòa thượng húy Chơn Tín – tự Đạo Thành – hiệu Pháp Hỷ

Ngài sinh tại Phú Yên, xuất gia tu học với Ngài Ấn Chánh – tự Tổ Tông – hiệu Huệ Minh, chùa Bảo Sơn. Thọ giới cụ túc được một thời gian, Ngài về trụ trì chùa Linh Sơn Hòn Chồng. Sau khi Ngài Huệ Nhãn viên tịch. Sơn môn cung cử Ngài Pháp Hỷ kiêm nhiệm trụ trì chùa Từ Quang đời thứ 6. Ngài Pháp Hỷ, uyên thâm phật học, tinh thông nho giáo, là pháp sư nổi tiếng thời bấy giờ. Danh tiếng Ngài được đồn khắp ra cả ngoài tỉnh. Ngài được nhiều lần mời ra kinh Đô thuyết pháp, giảng kinh, trong đó có các vị tham học với Ngài như: hòa thượng Viên Thành – trụ trì chùa Tra Am, Hòa thượng Đôn Hậu – trụ trì chùa Thiên Mụ, cư sĩ Lê Đình Thám….

Năm Thành Thái thứ 18 (1896), Ngài được vua mời ra thuyết pháp tại chùa Kim Quang – Huế.

Ngài đã nhiều lần tổ chức đại giới đàn tại chùa Linh Sơn, để thí giới cho hàng xuất gia và tại gia thọ cầu giới pháp. Trong thời gian Ngài trụ trì chùa Từ Quang, có rất nhiều vị hòa thượng thành danh sau này tham học với Ngài như: quốc sư Phước Huệ, hòa thượng Phổ Huệ…. đã vào tham học ba năm với Ngài Pháp Hỷ.

Hòa thượng húy Chơn Thật – tự Đạo Thông – hiệu Pháp Ngãi

Ngài sinh quán tại Phú Yên, xuất gia tu học với Ngài Huệ Minh, chùa Bảo Sơn. Ngài Pháp Ngãi là sư đệ của Ngài Pháp Hỷ. Do Ngài Pháp Hỷ tuổi cao không thể kiêm nhiệm trụ trì hai Tổ Đình, nên Ngài Pháp Ngãi được cử về trụ trì chùa Từ Quang đời thứ 7. Sau khi về trụ trì chùa Từ Quang, Ngài Pháp Ngãi thành lập Nông Thiền tại Tổ Đình, mua sắm Trâu, Bò, nông cụ cho Tăng chúng sinh hoạt theo phương châm của Tổ Bách Trượng “Một ngày không làm một ngày không ăn”. Nhưng rất tiếc Ngài viên tịch rất sớm. Tháp Ngài được dựng tại khuân viên chùa Từ Quang.

Hòa thượng húy Chơn Thành – tự Đạo Đạt – hiệu Pháp Ngữ

Ngài Pháp Ngữ là sư đệ Ngài Pháp Hỷ và Ngài Pháp Ngãi. Sau khi Ngài Pháp Ngãi viên tịch, Sơn môn cung cử Ngài Pháp Ngữ về trụ trì chùa Từ Quang đời thứ 8. Trong thời gian trụ trì chùa Từ Quang, Ngài bỏ lối sinh hoạt Nông thiền của Ngài Pháp Ngãi, thay vào đó là Ứng phú đạo tràng.

Năm 1928, Ngài Pháp Ngữ được cung cử làm chứng minh đạo sư, tại đại giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng. Trong thời gian trụ trì, ngôi Tổ Đình xảy ra hỏa hoạn, bị thiêu rụi hoàn toàn. Trong đó các mộc bảng, kinh sách, tài liệu của Tổ Diệu Nghiêm, và Ngài Toàn Nhật đều bị thiêu rụi, thật đáng tiếc.

Sau khi Tổ Đình bị cháy, Ngài Pháp Ngữ, xin phép chính quyền hóa duyên khắp nơi, và đại trùng tu lại ngôi chùa. Sau đó, Ngài nhập thất tu hành, rồi giao Tổ Đình lại cho Ngài Thiền Phương trong coi.

 Hòa thượng húy Thị Chí – tự Hành Thiện – hiệu Phước Hộ (1904-1985)

Ngài Phước Hộ sinh quán tại Xuân Thọ, Sông Cầu, Phú Yên. Ngài xuất gia tu học với Ngài Thiên Phương, chùa Phước Sơn. Năm 1922, Ngài thọ giới cụ túc tại đại giới đàn chùa Linh Sơn – Hòn Chồng, do Ngài Hoằng Hóa làm đàn đầu. Tại đại giới đàn này, Ngài thọ giới Sa di mới 19 tuổi, nhưng vì Ngài đậu thủ Sa di, nên Ngài được hòa thượng đàn đầu là Ngài Hoằng Hóa đặc cách tấn đàn cho thọ giới cụ túc, đây là trường hợp đặc biệt khó xảy ra. Sau khi đắc giới, Ngài trở về lại chùa Phước Sơn hầu hạ bổn sư, tinh cần tu học ròng rã hơn 10 năm.

Năm 1932, Ngài được bổn sư gởi ra Huế tham học với hòa thượng Giác Viên được 1 năm thì bổn sư lâm trọng bịnh, cho nên Ngài trở về hầu hạ chăm sóc. Năm 1933, Ngài được chư sơn cử về trụ trì chùa Từ Quang. Năm 1934, Ngài được cung thỉnh làm giáo thọ sư tại đại giới đàn, chùa Thiên Bảo, Khánh Hòa. Năm 1937, Ngài được thỉnh vào Phan Rang giảng dạy Phật pháp tại chùa Tây Thiên. Năm 1938, Ngài trở về Phú Yên, hợp tác với chư sơn mở Phật học đường tại chùa Bảo Lâm ,Tuy Hòa.

Năm 1941, Ngài được thỉnh ra Huế giảng dạy tại Phật học đường Báo Quốc. Năm 1942, Ngài trở lại Phú Yên giúp việc cho hội Phật học tỉnh nhà. Năm 1945, Ngài trở lại chùa Từ Quang và được cung thỉnh làm Chánh hội trưởng hội Phật học. Năm 1947, Ngài đại trùng tu lại chùa Từ Quang. Năm 1952, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma a xà lê, tại đại giới đàn chùa Thiên Bình, Bình Định. Năm 1959, Ngài kêu gọi toàn thể Phật tử trong tỉnh, phát tâm đóng góp xây dựng trường Bồ Đề, Tuy Hòa.

Năm 1963, Ngài là cây đại Thụ, chống đỡ ngôi nhà Phật pháp trước pháp nạn. Năm 1946, GHPGVNTN được thành lập, Ngài được cung thỉnh làm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Phú Yên. Năm 1964 đến 1970, Ngài cùng chư Tăng tín đồ trùng tu lại Tổ Đình Bảo Tịnh, nơi trụ sở của Giáo Hội Tỉnh. Năm 1968 (Mậu Thân), Ngài được cung thỉnh làm hòa thượng đàn đầu tại đại giới đàn Phước Huệ được tổ chức tại Phật Học Viện Nha Trang. Cũng vào tháng 9 năm này, Ngài được cung thỉnh làm đàn đầu tại đại giới đàn chùa Long Khánh, Bình Định. Năm 1971, Ngài được cung thỉnh làm Hội đồng Trưởng lão Viên tăng thống GHPGVNTN, kiêm luôn chức giám Luật viện này.

Năm 1973, Ngài lại được cung thỉnh làm đàn đầu hòa thượng đại giới đàn Phước Huệ tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang. Năm 1981, Ngài được cung thỉnh làm thành viên chứng minh GHPGVN.

Vào ngày 11 tháng Giêng năm 1985 (Ất Sửu), Ngài an nhiên thị tịch. Tháp ngài xây dựng tại khuôn viên chùa Bảo Tịnh.

Hòa thượng húy Thị Tín – tự Hành Giải – hiệu Phước Trí

(tiểu sử Ngài Phước Trí được viết ở bài chùa Triều Tôn)

Hòa thượng Phước Trí trụ trì chùa Triều Tôn. Sau khi hòa thượng Phước Hộ viên tịch, hòa thượng Phước Trí kiêm luôn trụ trì chùa Tổ Đình Từ Quang đời thứ 10. Trong thời gian này vì tuổi cao sức yếu, nên Ngài giao lại toàn quyền đại trùng tu Tổ Đình Từ Quang cho giám tự húy Quảng Niệm – hiệu Thiện Tu, nhưng rất tiếc Ngài Thiện Tu viên tịch quá sớm.

Hôm nay khi lên thăm chùa Từ Quang, chúng tôi quyết định đi bộ trên con đường đá ngày xưa chư Tổ để lại. Mặc dù ngày nay đã có con đường trải bê tông lên đến tận chùa. Bước chân trên con đường đá, lối dẫn lên chùa Từ Quang, chúng ta được trải nghiệm, như bước lại lối đi lịch sử mà chư Tổ hành đạo gần 300 năm. Nơi đây, đã in dấu biết bao cao Tăng thạc đức trải qua nhiều thế hệ. Tổ Diệu Nghiêm đã ở nơi này, chú giải kinh Hoa Nghiêm, khi đã đủ duyên lành, khai sáng A Lan Nhã. Để rồi nơi này, trở thành Tổ Đình của tất cả Tổ Đình Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh Phú Yên.

Diệu pháp cao thâm, theo Phổ Hiền ứng mộng, vào đất Phú Yên hoằng hóa

Nghiêm trì giới pháp, đến Bạch Thạch cơ duyên, sáng lập Lan Nhã Từ Quang.

Đến chư Tổ sau này, các Ngài đều ngời ngời đức hạnh. Ngài nào không có đệ tử xuất sắc kế vị, thì chư Sơn môn chọn người xứng đáng nhất trong Tông môn lập lên kế tục. Cho nên đa phần các đời trụ trì nơi Tổ Đình Từ Quang, đều giới đức tinh cần, tài năng thuộc hàng xuất chúng.

Đặc biệt nơi đây, là nơi sư Võ Trứ và Trần Cao Vân, chí lớn gặp nhau, bàn kế sách cứu dân giúp nước. Nhưng tiếc thay “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, cuộc khởi nghĩa đã thất bại thảm hại. Tuy cuộc khởi nghĩa này thất bại nhưng sự đời không thể lấy thành bại mà luận anh hùng. Trong lòng người dân Phú Yên luôn khắc ghi và thầm phục sự tích anh hùng sư Võ Trứ. Để rồi hôm nay, chúng ta qua lại trên con đường thiên lý Bắc, Nam; nhìn từng tảng Đá Trắng nhấp nhô lúc ẩn lúc hiện trong rừng cây, giống như những đoàn người, ngựa của nghĩa quân hào khí năm nào, đang hiển hiện tại chốn này, lòng không khỏi bùi ngùi xót thương.

Tướng quân chiến mã giờ đâu

Cỏ khô, hoa héo buồn rầu khóc thương.

Chúng tôi đến chùa Từ Quang, lòng bồi hồi nuối tiếc, khi nghĩ đến mộc bảng và những tác phẩm quí giá của chư Tổ để lại, nay đã hóa thành tro bụi, trong cơn hỏa hoạn. Âu cũng là nhân duyên, mộc bảng được hỏa táng và theo các Ngài về Tây, khi đã hoàn thành sứ mạng độ sanh. Hay có khi, đó cũng là ý Tổ, để cảnh tỉnh chúng ta “Nếu y theo kinh điển tìm Phật mà không hành trì thì giống như dùng sừng thỏ làm gậy khiêu trăng đáy nước”. Cho nên một ngọn lửa cũng đủ để cảnh tỉnh sự vô thường đối với thế nhân.

Cứ mãi tham quan và hoài niệm, chúng tôi quay gót trở về thì trời chập tối. Lúc này, Trăng đã nhô lên khỏi Vịnh Xuân Đài. Ánh thiềm cung chiếu sáng những tảng Đá Trắng phía sau núi lung linh kỳ ảo, làm cho ngôi Tổ Đình thêm phần tĩnh mịch linh thiêng. Bỗng vang lên tiếng chuông chùa như thức tỉnh những ai còn đang mê mờ bởi vô minh phiền não. Thật là:

Chuông khua tỉnh mộng sắc không

Đường về trăng sáng bên sông Ngân Hà.

Ngày nay, Tổ Đình Từ Quang đã khởi sắc trở lại. Nơi này trở thành điểm du lịch tâm linh và được công nhận Di Tích Lịch Sử Quốc Gia. Đặc biệt cứ vào ngày 11 tháng giêng hàng năm, tại chùa Từ Quang – Đá Trắng diễn ra lễ hội, đó cũng là lễ hội chùa duy nhất của người dân phú Yên.

Tứ Tuyệt Là Gì? Vợ Chồng Phạm Tứ Tuyệt Có Lấy Được Nhau?

Tứ tuyệt “Tứ” có nghĩa là 4, “Tuyệt “được hiểu là Tuyệt mệnh. Có 4 cặp tuổi trong 12 con giáp khi gặp nhau sẽ kìm hãm sự phát triển của đối phương, khiến cho cuộc sống gặp nhiều khó khăn, bệnh tật, tình duyên lận đận, kém tài vận, công việc không có sự phát triển. Tất cả chung quy lại có nghĩa là Tứ tuyệt. Vì mang đến vận xui nên các cặp tuổi này thường được sử dụng để xem tuổi và tránh tuổi kết hôn vợ chồng, sinh con hoặc xem tuổi con cái với nhau, kết giao bạn bè, đối tác làm ăn.

Theo quan niệm Phong Thuỷ, trong Địa chi có 12 con giáp, tượng trưng cho tuổi của mỗi người khi sinh ra, bao gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Dân gian tính tuổi phạm vào Tứ Tuyệt thường dựa vào quy luật ngũ hành tương khắc:

Tứ tuyệt gồm các cặp đôi nào trong 12 con giáp

Có 4 cặp Tứ tuyệt trong 12 con giáp, bao gồm:

Tuổi Tý kỵ tuổi Tỵ: Dương Thủy của tuổi Tý khắc âm Hỏa của tuổi Tỵ: Thủy khắc chế Hỏa

Tuổi Hợi kỵ tuổi Ngọ: Âm Thủy của tuổi Hợi khắc dương Hỏa của tuổi Ngọ: Thủy khắc chế Hỏa

Tuổi Dậu kỵ tuổi Dần: Âm Kim của tuổi Dậu khắc dương Mộc của tuổi Dần: Kim khắc chế Mộc

Tuổi Thân kỵ tuổi Mão: Dương Kim của tuổi Thân khắc âm Mộc của tuổi Mão: Kim khắc chế Mộc

Tứ tuyệt được xem là điều phạm xấu nhất và kém may mắn nhất trong xung khắc tuổi. Ở phương diện hôn nhân, khi cưới nhau về cuộc sống gia đình vất vả, tình cảm vợ chồng nhiều mâu thuẫn dễ chia ly, con cái hay gặp đau yếu. Ở phương diện tài lộc lại càng nghèo túng, nếu là đối tác với nhau làm ăn thất bại, kinh doanh dễ phá sản.

Phạm Tứ Tuyệt là kỵ cả cả trăm đường. Bởi vậy tốt nhất trên tránh những cặp tuổi trên kết hợp với nhau để tránh những điều không may sẽ tới.

Vợ chồng phạm Tứ Tuyệt có lấy được nhau?

Theo phong tục xưa, việc xem tuổi vợ chồng là yếu tố được gia đình 2 bên đặt lên hàng đầu. Nếu vợ chồng hợp tuổi, cuộc hôn nhân của bạn sẽ trọn vẹn và hạnh phúc. Và ngược lại, tuổi khắc nhau,cuộc sống gia đình về sau sẽ gặp nhiều sóng gió, khó khăn. Nhiều đôi sau khi xem tuổi vì không hợp nhau, bị gia đình phản đối mà phải chia ly.

Cách hóa giải địa chi Tứ tuyệt vợ chồng

Chọn ngày giờ đẹp hợp tuổi để tiến hành cưới hỏi: Người ta thường nói “lấy vợ xem tuổi đàn bà”. Gia đình có thể dựa vào tuổi cô dâu để chọn ra ngày cưới phù hợp với tử vi của 2 vợ chồng. Tuổi đẹp có thể kết hôn là tuổi không phạm vào Kim Lâu. Việc chọn ngày giờ đẹp có thể hoá giải phần nào những điều xấu trong cuộc sống hôn nhân sau này.

Lựa năm sinh con cái: Con cái là sợi dây kết nối giữa bố mẹ. Có thể dựa vào ngũ hành xung để chọn năm sinh con hoá giải. Mệnh của mẹ khắc mệnh của bố cần nên nên sinh con có mệnh dung hòa thì sẽ chung sống tốt đẹp. Ví dụ đơn giản: Vợ mệnh Kim chồng mệnh Mộc thì sinh con mệnh Thủy vì Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Xem hướng nhà hợp phong thủy: Đây là một cách loại bỏ sát khí giúp tăng lợi khí cho tổ ấm của hai vợ chồng. Khi có ý định mua nhà, đất cần nên chọn hướng phong thuỷ cẩn thận. Việc này rất quan trọng để hoá giải Tứ tuyệt, giúp cho gia đình yên ấm, tránh nhiều rủi ro.

Ngoài ra hoá giải tứ tuyệt có thể áp dụng một số biện pháp khác như treo tranh phong thuỷ, trồng cây trong nhà hoặc trang trí bằng các vật phẩm phong thuỷ..đều có thể giúp ích nhiều cho cuộc sống hôn nhân.

Tứ tuyệt là tuổi xung khắc rất xấu đối với vận mệnh phong thủy hay tử vi của mỗi người. Tuy nhiên, sẽ luôn có những biện pháp hoá giải dù ít hay nhiều. Bởi vậy bạn có thể yên tâm mà cố gắng sống tích cực, giữ gìn, nâng niu các mối quan hệ. Hẳn sau khi đọc xong bài viết bạn đã hiểu được phần nào Tứ tuyệt là gì? Mong rằng những thông tin trên sẽ giúp ích cho bạn ở các mối quan hệ trong cuộc sống

Tứ Linh Là Gì? Ý Nghĩa Tứ Linh Vật Long + Lân + Quy + Phụng

Tứ linh hay còn gọi là Long – Lân – Quy – Phụng là bốn linh vật có sức mạnh phi thường tượng trưng cho trời đất, bắt nguồn từ tứ linh thần: Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước. Chúng được người xưa tạo ra từ bốn phương trời, đại diện cho 4 nguyên tố chính của trời đất nước, lửa, đất và gió. Theo dân gian thì mỗi vị thần căn giữ 7 trong 28 chòm sao trong thiên văn Trung Hoa.

Hình tượng tứ linh được sử dụng và khắc họa khá phổ biển trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam từ kinh đô, đền chùa cho đến nhà dân như một hiện trạng sống động của 4 linh vật này trong tâm thức người Việt. Các vật phẩm khắc tứ linh đều có độ khó và độ tinh xảo cao do phải khắc họa tới 4 hình tượng trên một vùng không gian nhỏ. Hơn nữa các linh vật này đều có những chi tiết đòi hỏi phải được khắc họa chính xác nên thời gian thực hiện những sản phẩm này cũng lâu hơn và giá trị cũng cao hơn rất nhiều.

Rồng trong truyền thuyết được coi là con vật của trời, có quyền năng tối cao hơn các loài vật khác. Sự xuất hiện của Rồng được quan niệm là mang lại điều tốt lành, may mắn, thuận lợi và bình an. Nhân dân xưa quan niệm rồng là sứ giả để con người có thể gửi gắm những ước nguyện của cuộc sống như cầu mưa thuận gió hòa, cầu phồn thực…

Rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh, Rồng đại diện cho quẻ Chấn, mang lại Dương khí, sự quật khởi, ý chí, công danh, tài lộc và quyền lực. Do đó trên quần áo của vua chúa và hoàng tộc thường có thêu hình rồng bằng vàng để thể hiện thiên mệnh con trời có quyền lực tối cao. Dân tộc Việt Nam ta đã có truyền thuyết về rồng từ rất sớm vì nó gắn liền với mây và mưa với truyền thống trồng lúa nước lâu đời, truyền thuyết “Còn Rồng Cháu Tiên” và đặc biệt là in đậm vào tâm thức người Hà Nội với cái tên Thăng Long, Vịnh Hạ Long, Sông Cửu Long. Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi.

Rồng thực chất không phải là một con vật có thật mà là sản phẩm của tưởng tượng, nghệ thuật và niềm tin mãnh liệt. ình tượng của rồng bao gồm sự kết hợp của các loài: thân rắn, đùi thằn lằn, móng vuốt của chim ưng, đuôi rắn, sừng hươu, vẩy cá. Không thể xác định chính xác tại sao lại có hình tượng con rồng được khắc họa hoàn chỉnh như vậy có một lý giải tương đối hợp lý được đưa ra đó là khi Hoa Hạ thống nhất các bộ tộc Trung Nguyên đã kết hợp Linh Vật tổ của mình với linh vật của các bộ tộc khác tạo thành Giao Long và Rông được phát triển dựa trên hình tượng Giao Long này.

Rồng không phải loài vật có thật nhưng hình tượng rồng lại được miêu tả hết sức chi tiết: thân rắn, đùi thằn lằn, móng vuốt của chim ưng, đuôi rắn, sừng hươu, vẩy cá. Rồng đóng vai trò quan trọng với người Việt Nam, đại diện cho ngành công nghiệp lúa nước do đó có nhiều điểm khác biệt so với rồng Trung Quốc.

Thân Rồng uốn hình Sin gồm 12 khúc tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Sự uốn lượn mềm mại và nhấp nhô của rồng thể hiện khả năng biến đổi thời tiết, thiên nhiên và mùa màng.

Đầu rồng là nét khác biệt lớn nhất, Đầu rồng có bờm dài, râu cằm, không sừng. Mắt lồi to, hàm mở rộng có răng nanh ngắt lên, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi mảnh rất dài

Miệng rồng ngậm Minh châu, Rồng ở các nước giữ ngọc bằng móng vuốt trước. Viên Châu tượng trưng cho tính nhân văn, trí thức và lòng cao thượng. Đầu Rồng luôn ngước lên thể hiện ý chí nhân văn cao.

2. Lân

Là linh vật được biết đến thứ 2 sau Rồng, dân gian cho rằng sự xuất hiện của Lân báo hiệu điểm lành, thái bình thịnh vượng sắp tới. Ngoài ra hình tượng Lân cũng được dùng để trấn giữ cửa nhà, hóa giải hung khí khi đối diện với cửa nhà khác, bị ngã ba, ngã tư, góc nhọn, đường vòng chiểu thẳng vào nhà.

Truyền thuyết cho rằng, Lân ban đầu là một loài quái thú từ dưới biển lên bở phá hoại mùa màng vật chất không cho con người làm ăn. Do đó Đức Phật Di Lặc đã hóa thân thành ông địa và thuần phục được thú dữ, biến Lân thành một con thú lành thường xuyên giúp đỡ người tốt, đặc biệt là những người hiếu thảo, biết làm việc thiện nên ngoài tên gọi là Lân còn được gọi là Nhân thú tức là con thú làm việc thiện. Sau này cứ vào mỗi mùa tết và trung thu Ông địa lại đưa Lân xuống múa mua vui và thăm hỏi mọi người. Ông Địa và con lân đi đến đâu là giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh và giấy đỏ đón chào. Sau này, người có tiền thường treo giải bằng tiền buộc trong một miếng vải đỏ, treo cùng bắp cải hoặc rau xanh.

Lân là con cái, con đực gọi là Kỳ nên được gọi chung là kỳ lân. Lân có dung mạo kì dị và cũng là một sản phẩm từ trí tưởng tượng nghệ thuật của con người mà ra. Lân là con Vật đầu nửa rồng nửa thú, thuộc loài nai, mình vằn, đuôi giống như đuôi trâu trên đầu thường có 1 sừng. Thân kỳ Lân giống Hươu nhưng có vảy khắp người, chỉ ăn cỏ và thần thái vô cùng sinh động. Vì là một loài thú lành tình chuyên giúp người tốt và đuổi cắn người xấu nên mỗi khi Kỳ Lân xuất hiện là báo hiệu của một thánh nhân sắp xuất hiện cứu giúp dân chúng.

Kỳ lân là loài vật chuyên bảo vệ và canh giữ cửa ngôi nhà, miệng há to thu hút và trấn áp mọi loại hung khí vào nhà. Vì vậy, trong mỗi đình chùa ta thường thấy có tượng hai con kỳ lân đá canh cửa. Trong Phong Thuỷ, tượng kỳ lân thường dùng trấn giữ cửa nhà, hoá giải hung khí chiếu tới khi đối diện với của nhà khác, bị ngã ba, ngã tư, đường vòng, hoặc góc nhọn chiếu vào cửa nhà.

Quy (Rùa) là con vật duy nhất có thật trong tự nhiên. Rùa là một loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và khả năng sống trong một thời gian mà không cần tới thức ăn do đó được ví với tinh thần thanh cao, thoát tục. Rùa từ lâu đã gắn liền với văn hóa người Việt thông qua câu chuyện thần Kim Quy giúp vua An Dương Vương xây và bảo vệ thành Cổ Loa.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn bất diệt, hình ảnh rùa đội bia đá ghi lại sử sách Việt Nam và 82 bia đá ghi tên tiến sĩ đỗ đạt tại Quốc Tử Giám được cho là một cách thể hiện sự tôn kính đối với công ơn của các vị anh hùng, truyền thống uống nước nhớ nguồn, thể hiện tinh thần văn hiến bất diệt của dân tộc ta. Rùa tuy không phải là linh vật trong Phật giáo nhưng sự trường tồn của rùa được gắn liền với sự trường tồn của Phật Giáo. Truyền thuyết kể rằng, An Dương Vương sau khi giết con gái Mị Châu vì tội thông đồng với giặc đã cưỡi lên lưng rùa và đi về phía biển, các nhà nghiên cứu cho rằng hình tượng này khá giống với vị thần Visou tối cao của đạo Bà La Môn.

Trong lĩnh vực tâm linh Quy được xem là hội tụ của trời đất – âm dương : bụng bằng tưởng trưng cho mặt đất (âm), mai khum vòng tượng trưng cho vòm trời (dương). Trong dân gian rùa có nhiều lúc được kết hợp với những con vật khác như rắn (Quy xà hợp thể), hay rùa đầu rồng (long quy) có sự kết hợp của rùa và rồng nên rất linh thiêng.

Phượng hoàng được bắt nguồn từ nền văn hóa của Trung Hoa, được ví là loài chim đẹp nhất trong các loài chim. Phượng hoàng tuy được phân thành Phượng (con trống) và Hoàng (con mái) nhưng về sau không còn sự phẩn biệt rạch ròi như vậy nữa mà các đặc điểm được kết hợp lại với nhau và gọi chung là Phượng Hoàng. Trong nền văn hóa của các nước phương đông, Phượng Hoàng là một trong những linh vật tối cao được cho sánh ngang với Rồng. Phượng hoàng tượng trưng cho vẻ đẹp, sự cao quý, tình yêu thương của người mẹ và ẩn chứa một sức mạnh huyền bí. Do đó Phượng hoàng đại diện cho Hoàng Hậu hay các phi tần sánh bên Rồng đại diện cho Vua.

Phượng hoàng cũng là một linh vật trong truyền thuyết được hình tượng hóa trong đời sống tâm linh. Phượng được miêu tả có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vảy cá chép , móng chim ưng và đuôi công Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Phượng hoàng có ý nghĩa tứ linh vật mang tính tích cực, nó biểu thị cho đức hạnh, vẻ duyên dáng và thanh nhã. Theo truyển thuyết Phượng hoàng xuất hiện trong thời kỳ hòa bình thịnh vượng do đó người ta thường trưng bày hình tượng Phượng hoàng để hiện quyền lực, sức mạnh và cầu thịnh vượng.

Rồng mang yếu tố dương và tượng trưng cho vua chúa, Phượng hoàng mang yếu tố âm tượng trưng cho hoàng hậu. Âm dương hòa hợp tức là rồng và phượng quấn quýt lấy nhau, do đó hình tượng rồng phượng được người dân Trung Quốc cho là đại diện của hạnh phúc giữa chồng và vợ. Do đó trong các đám cưới tại Trung Quốc người ta thương trang trí hình ảnh rồng phượng để cầu chúc hạnh phúc.

Một số sản phẩm điêu khắc tứ linh: Tranh tứ linh..

Tranh Tứ linh mang đậm tính chất tâm linh và phong thuỷ. Việc treo tranh Tứ Linh bằng gỗ trong nhà không chỉ đem đến sự sang trọng và ấm áp cho ngôi nhà mà còn mang đến may mắn cho gia chủ. Theo quan niệm phong thuỷ, treo tranh gỗ Tứ linh trong nhà đúng chuẩn phong thuỷ sẽ giúp trấn trạch, ngăn chặn tà khí xâm nhập và mang đến may mắn, bình an cho gia đình.

Bạn đang xem bài viết Lược Sử Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Hoà trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!