Xem Nhiều 1/2023 #️ Múa Sư Tử Mèo: Đặc Sắc Văn Hóa Dân Tộc Tày, Nùng Xứ Lạng # Top 2 Trend | Duongveyeuthuong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Múa Sư Tử Mèo: Đặc Sắc Văn Hóa Dân Tộc Tày, Nùng Xứ Lạng # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Múa Sư Tử Mèo: Đặc Sắc Văn Hóa Dân Tộc Tày, Nùng Xứ Lạng mới nhất trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Học viên lớp múa sư tử mèo xã Quang Trung, huyện Bình Gia tập múa

Múa sư tử là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống thường được biểu diễn trong các dịp lễ, tết của người Tày, Nùng (hai dân tộc chiếm trên 80% dân số Lạng Sơn) với nhiều tên gọi khác nhau như: kỳ lân, phụ, loòng phụ… Tuy nhiên, tên gọi chung nhất, thông dụng nhất là múa sư tử mèo. Vì đầu sư tử này có hình tròn giống chiếc nón vành rộng, được trang trí bằng các đường vẽ với nhiều màu sơn sặc sỡ.

Cũng giống như múa sư tử của các dân tộc khác, múa sư tử mèo không tách rời khỏi nhạc và trò diễn. Tuy nhiên, múa sư tử mèo có thêm những vật dụng, đạo cụ đặc trưng không thể thiếu như: mặt báo đông, mặt nả lình (còn gọi là mặt khỉ); chiêng (là), chũm chọe (xụp xè, xấp xóa, nghé xả); đinh ba chạc (sam xa), gậy, đoản đao (pàn tao), kiếm, dao nhọn… Tùy vào không gian, địa điểm, mục đích, yêu cầu múa sư tử mèo có nhiều nghi thức, điệu múa và các trò diễn cho phù hợp như: múa chào thần thánh; múa chúc mừng năm mới các nhà trong làng (pai hờn, pái lờn); múa đi đường, múa tại hội lồng tồng… và các trò diễn như: báo đông, trò vui của khỉ, múa võ (oóc quyền)…

Với quan niệm sư tử là tượng trưng cho sự thịnh vượng, phát đạt, sư tử đi đến đâu là mang theo hạnh phúc, no đủ và niềm vui đến đó, vì vậy, trong các ngày hội đầu năm, múa sư tử là một hoạt động thể hiện khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngoài ra, với vũ điệu khỏe khoắn, múa sư tử còn là một hoạt động thể hiện tinh thần thượng võ của người miền núi. Đặc biệt, vào đầu năm mới (mùng 1, 2 tết âm lịch), đồng bào Tày, Nùng Lạng Sơn thường mời các đội múa sư tử vào nhà mình múa với quan niệm năm mới sư tử xuất hiện sẽ xua đuổi tà ma, diệt mọi ôn dịch, biểu hiện sự thái bình và niềm tin vào một năm mới sung túc. Bà Phùng Thị Lê (phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn) cho biết: Tuy nhà ở trung tâm thành phố nhưng mỗi năm tết đến, gia đình tôi và hàng xóm ở đây vẫn đón các đội múa sư tử mèo từ các xã đến từng nhà múa để cầu bình an, sức khỏe và may mắn trong năm mới. Không biết có xua đuổi được tà ma như quan niệm hay không nhưng không khí trong gia đình thực sự vui tươi và rộn rã hơn rất nhiều.

Trong cuộc sống hiện đại với nhiều loại hình nghệ thuật mới xâm nhập nhưng người dân tộc Nùng xã Hải Yến (huyện Cao Lộc) vẫn yêu thích và duy trì tục lệ múa sư tử mèo trong những ngày lễ, tết. Ông Hứa Xuân Dương, Chủ tịch UBND xã cho biết: Hiện nay, 6/7 thôn trong xã có đội múa sư tử với 12 đầu lân và gần 200 thành viên tham gia. Người dân ở mọi độ tuổi đều đam mê múa sư tử mèo. Mỗi hộ gia đình tự nguyện đóng góp từ 10 đến 50 ngàn đồng/năm cho các đội múa sư tử luyện tập và biểu diễn.

Nhận thức được ý nghĩa của loại hình nghệ thuật múa sư tử mèo trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã mời nghệ nhân mở lớp truyền dạy với mong muốn gìn giữ và phát huy giá trị của loại hình di sản phi vật thể này. Tính riêng năm 2016, sở đã tổ chức được 2 lớp học múa sư tử mèo, thu hút hơn 60 học viên tham gia. Ông Lâm Văn Đầm, nghệ nhân thôn Tân Lập, xã Quang Trung, huyện Bình Gia cho biết: Múa sư tử có từ đời ông cha tôi truyền lại. Từ nhỏ, tôi đã được học và thường đi múa vào những dịp lễ tết, hội lồng tồng. Ngoài đi múa các ngày hội trong làng, trong xã, tôi còn được mời đi múa tận các xã khác (Thiện Hòa, Thiện Long) và cả các huyện Cao Lộc, Lộc Bình… Vừa qua, tôi đã tham gia lớp múa sư tử của Sở VHTTDL và truyền dạy được cho 30 học viên. Các học viên đi tập đều, nhiệt tình và hầu hết đều múa được khoảng 80%.

Ông Nguyễn Phúc Hà, Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh cho biết: Múa sư tử mèo là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc của các dân tộc Tày, Nùng trong tỉnh. Thời gian tới, Sở VHTTDL tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân gìn giữ giá trị của loại hình nghệ thuật tổng hợp này. Đồng thời nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, lập hồ sơ trình lên cấp trên đề nghị xếp hạng đối với loại hình múa sư tử của dân tộc Tày, Nùng. Qua đó nhằm đưa loại hình này trở thành một sản phẩm văn hóa du lịch hấp dẫn riêng có của xứ Lạng, góp phần làm phong phú thêm hành trình tham quan, khám phá, trải nghiệm của du khách tham quan du lịch trong và ngoài tỉnh Lạng Sơn./.

Nguồn: chúng tôi

Nghệ Thuật Múa Sư Tử Mèo Của Dân Tộc Nùng

Điệu múa sư tử mèo do đồng bào dân tộc Nùng đến từ bản Tình Slung, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn biểu diễn. Múa sư tử mèo là một trong những điệu múa truyền thống không thể thiếu của đồng bào dân tộc Nùng ở Lạng Sơn vào các dịp như: Tết Nguyên đán, hội Lồng Tồng, Trung thu, lễ vào nhà mới…

Múa sư tử mèo thể hiện tinh thần thượng võ của người miền núi, là biểu tượng của sự may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống. Người Nùng quan niệm múa sư tử mèo để xua đi những điều xấu nên khuôn mặt mèo càng dữ tợn càng tốt, điệu võ càng mạnh mẽ càng hay.

Người múa sư tử mèo sẽ điều khiển một chiếc đầu có hình dáng gần giống đầu sư tử nhưng mặt nạ có khuôn mặt của con mèo. Đặc biệt, đầu sư tử được người dân tự làm bằng nguyên liệu sẵn có, kết hợp với nhiều màu sắc sặc sỡ như: Đỏ, đen, vàng hay xanh đậm… Múa sư tử mèo sử dụng những đạo cụ như: Mặt báo đông, mặt nả lình (còn gọi là mặt khỉ); chiêng (là), chũm chọe (xụp xè, xấp xóa, nghé xả); đinh ba chạc (sam xa), gậy, đoản đao (pàn tao), kiếm, dao nhọn…

Múa sư tử mèo có các động tác cơ bản là xuống tấn, đi đường, múa chào, kính bái các miếu, các gian thờ. Múa trong ngày hội thì có thêm múa võ, múa đao kiếm, đinh ba, gậy đôi, tẳng giảo (một loại binh khí của người Nùng). Tùy vào không gian, địa điểm, mục đích, yêu cầu múa sư tử mèo có nhiều nghi thức, điệu múa và các trò diễn cho phù hợp như: Múa chào thần thánh; múa chúc mừng năm mới các nhà trong làng (pai hờn, pái lờn); múa đi đường, múa tại hội lồng tồng… và các trò diễn. Múa sư tử mèo của dân tộc Tày, Nùng Lạng Sơn được công nhận là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian mang tầm cỡ quốc gia.

Điệu múa sư tử mèo được các chàng trai dân tộc Nùng biểu diễn tại không gian “Chợ phiên vùng cao xứ Lạng” thể hiện tinh thần thượng võ của người Nùng, là dịp du khách được chiêm ngưỡng điệu múa độc đáo, hấp dẫn, lạ mắt cùng với những động tác múa võ vừa nhanh, vừa uyển chuyển kết hợp với tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng, tạo không gian sôi nổi, náo nhiệt tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Hải Yến

Độc Đáo Điệu Múa Sư Tử Mèo Của Người Tày, Nùng

Ðây là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống được biểu diễn trong các dịp lễ, tết của người Tày, Nùng. Theo quan niệm của họ, sư tử là tượng trưng cho sự thịnh vượng, sư tử đi đến đâu là mang theo hạnh phúc, no đủ và niềm vui đến đó. Người Tày, Nùng cho rằng, múa sư tử mèo để xua đi những điều xấu, do vậy khuôn mặt mèo càng dữ tợn càng tốt, điệu võ càng mạnh mẽ càng hấp dẫn. Nếu thiếu điệu múa sư tử mèo là thiếu đi một phần linh hồn của ngày hội và màu sắc rực rỡ của ngày xuân.

Ðể múa sư tử mèo, người múa phải điều khiển một chiếc đầu có hình dáng gần giống đầu sư tử, nhưng có khuôn mặt của con mèo. Ðể làm được đầu sư tử mèo bền đẹp, bắt mắt phải mất hơn 1 tuần. Nghệ nhân phải tìm chọn loại đất lấy ở giữa dòng sông, suối, sau đó được đem giã nhuyễn, cho nước quánh mịn. Ðầu sư tử phải được nặn giống nguyên mẫu, dáng hình phong phú, đẹp. Nặn xong hình mặt thì đem phơi, cho đất sét khô lại rồi dán giấy bồi, sau đó là công đoạn sơn vẽ các màu, tạo nên hình thù, gương mặt mèo hợp lý, bắt mắt. Cuối cùng là gắn các mảnh vải nhiều màu sắc, bông, lông vào đầu và tạo đuôi sư tử mèo.

Đầu sư tử mèo hoàn chỉnh có hình tròn giống chiếc nón vành rộng, đường kính khoảng 60 cm, có mắt mũi to, mồm rộng, tai nhỏ, lông mày, 3 chiếc sừng, lưỡi và râu mép trông dữ tợn. Thân sư tử mèo rộng khoảng 1 m, dài 2 m được may vá với nhiều màu sắc sặc sỡ. Phía trong đầu có 2 thanh ngang bằng gỗ để làm tay cầm khi múa. Mỗi con sư tử mèo có khuôn mặt, sắc thái riêng, không con nào giống con nào.

Múa sư tử mèo có các động tác cơ bản là xuống tấn, đi đường, múa chào, kính bái các miếu, các gian thờ cúng. Trong bài múa sư tử mèo, không thể thiếu phần biểu diễn các động tác võ thuật như các bài quyền, kiếm, binh khí thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của con người.

Những người có kinh nghiệm từ 10 năm trở lên mới được múa đầu sư tử mèo đen (sư tử có uy thế trong đội múa). Đây phải là người rất sành sỏi, giỏi giang, có thể biết người nào múa sai để chỉnh đốn. Vào những ngày hội lớn hay công việc hệ trọng của địa phương mới được múa sư tử mèo đầu đen, trước đó phải làm lễ cẩn thận, theo đúng cách thức truyền thống. Thông thường một đội múa sư tử mèo ít nhất phải có 8 người, càng nhiều người múa thì càng hay, mỗi con sử tử mèo chỉ được một người múa.

Cũng như múa sư tử của các dân tộc khác, múa sư tử mèo của người Tày, Nùng không tách rời khỏi nhạc và trò diễn; dàn nhạc phải đủ trống, chiêng, chũm chọe, thanh la. Trong đội múa sư tử mèo, dẫn đầu thường là những thanh niên khỏe mạnh, mặc sắc phục truyền thống, mang gậy đôi, kiếm, tẳng giảo (binh khí của người Nùng)…, thể hiện các thế võ mạnh mẽ, dứt khoát.

Với những giá trị văn hóa truyền thống đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Múa sư tử mèo của người Tày, Nùng là loại hình Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2017. Tuy nhiên hiện nay, được biết trên địa bàn tỉnh không còn nghệ nhân biết làm đầu sư tử mèo, có rất ít các nghệ nhân biết múa sư tử mèo và chỉ còn vài hộ còn gìn giữ được sư tử mèo. Trong khi đó, nhu cầu thưởng thức, sử dụng sư tử mèo trong các lễ hội của người dân lại rất cao. Người Tày, Nùng ở Đắk Nông phải đặt mua sư tử mèo ở các tỉnh phía Bắc mang vào để sử dụng, lưu giữ cẩn thận.

Bởi vậy, để bảo tồn và phát huy hơn nữa các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp Nhân dân cần tăng cường hơn nữa. Tỉnh, ngành chức năng cần quan tâm, nghiên cứu đào tạo thế hệ trẻ biết chế tạo, múa sư tử mèo. Qua đó góp phần gìn giữ, phát huy và quảng bá loại hình di sản văn hóa truyền thống này; tạo nên sự đa dạng, phong phú trong kho tàng văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh./.

Nguồn: TCDL

Sư Tử Trong Văn Hóa Việt

Sư tử trong văn hóa Việt có bản sắc riêng, ý tứ thâm trầm. Bài viết này bước đầu tìm hiểu về sư tử- linh vật có nguồn gốc Tây Á và cách thức linh vật này đi vào Nho giáo, Phật giáo rồi truyền vào Việt Nam. Đồng thời, làm rõ sự thuần hậu cũng như quý giá của sư tử đá qua các triều đại và trong dân gian Việt Nam.

Hình tượng sư tử trong tín ngưỡng và văn hóa phương Đông

Sư tử được sử dụng làm hình tượng thể hiện Phật pháp ngay từ khi Phật giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên ở Ấn Độ. Lời thuyết pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni, được ví như tiếng sư tử hống, lan truyền trong chúng sanh. Tiếng rống của sư tử biểu thị uy lực và biểu tượng sức mạnh tinh thần và trí tuệ, không hề mang ý nghĩa sức mạnh cơ bắp. Cũng có những điển tích cho rằng Phật là sư tử của dòng họ Sakya, nên một cặp sư tử được khắc chạm trên tọa cụ của Phật Thích Ca vào khoảng 500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn (là thời kỳ không được phép tạc tượng Phật theo hình dạng con người). Bởi vậy, hình tượng sư tử được dùng trong nhiều công trình của Phật giáo, với ý nghĩa là vật bảo hộ và thể hiện Phật pháp.

Còn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam- nơi không phải là quê hương của sư tử trong tự nhiên, thì nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng sư tử là do sứ giả các nước Tây Á tiến cống đến Trung Hoa. Thời kỳ Hán, Đường, nhà nước phong kiến Trung Hoa chuyển từ phân quyền sang tập quyền, hoàng quyền mới chú ý tới sức mạnh nanh, vuốt của sư tử, nên xuất hiện cặp đôi sư tử bên cạnh hình tượng cổ điển “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long triều nguyệt” trấn giữ công thự, đền đài, lăng mộ… Theo các tài liệu cổ, hình tượng sư tử này xuất hiện vào thế kỷ thứ III sau công nguyên (Hậu Hán, Sơ Đường).

Sư tử gốm Cây Mai ở Công Thần Miếu, Vĩnh Long.

Sư tử thời nhà Nguyễn tại Miếu Đức Cao Hoàng.

Trong văn hóa Hán, sư tử là con vật biểu tượng sức mạnh, nhưng khi thể hiện, người Hán cách điệu, khó tìm thấy chi tiết nào giống như sư tử thật. Họ coi sư tử là môn thú bảo hộ, chống lại các thế lực tà ác và mang lại điều tốt lành, thịnh vượng. Họ cũng tuân theo nguyên tắc cặp đôi sư tử đực-cái, biểu thị “âm- dương điều hòa”. Sư tử cái biểu trưng cho việc bảo vệ bên trong và sư tử đực bảo vệ kiến trúc (nhà ở, đền, chùa, lăng mộ, cung cấm…). Nho giáo còn dùng hình tượng sư tử như là cách chơi chữ, với chữ sư là thầy, nên thể hiện Tam Công (trong công danh): Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Hình tượng sư tử dạng này thể hiện bằng sư tử có bờm rậm, trán cao, không có nanh, vuốt.

Ở nước ta, vốn có hàng ngàn năm ảnh hưởng của Phật giáo, hình tượng sư tử trong văn hóa bao giờ cũng thể hiện qua tín ngưỡng này. Mỹ thuật Đại Việt thời Lý, Trần- lúc đạo Phật là Quốc giáo- có hình tượng sư tử mang triết lý rất riêng. Thời Lê, Nguyễn- tinh thần Nho giáo làm nền tảng xã hội- thì sư tử còn tượng trưng cho Tam Công, nhưng vẫn giữ nét riêng. Đó là bởi như phần trên đã đề cập, Phật giáo xem sư tử gắn bó với biểu tượng của Phật pháp và một phần gắn bó với chư vị Bồ Tát, vốn thực hiện Phật pháp qua thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Tranh Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử thể hiện rõ tư tưởng này. Đi tất cả các chùa Việt Nam trước đây, chúng ta bắt gặp hình tượng sư tử gần gũi, không hề gây sự sợ hãi.

Con sư tử đá trong văn hóa Việt

Từ quan niệm riêng của Việt Nam về hình tượng sư tử, tượng sư tử ở các di tích văn hóa lịch sử thời Lý- Trần hết sức đôn hậu: miệng rộng đang cười, nhe răng thể hiện niềm vui. Hàm răng của sư tử trong văn hóa Việt dày và đôi khi có hoa văn trên răng. Đặc biệt, hình tượng sư tử Việt dù trong tổng thể đường nét cách điệu mạnh mẽ, thì về chi tiết vẫn là những đường cong mềm mại, hình ảnh cách điệu chứ không rõ ràng khoe móng vuốt và cơ bắp theo kiểu khắc họa rõ các cơ theo hình thể học như sư tử Trung Hoa. Có thể thấy điều này qua tượng sư tử thời Lý ở chùa Bà Tấm, chùa Thầy (Hà Nội), chùa Hương Lãng (Hưng Yên), chùa Phật Tích (Bắc Ninh)…

Thời Lê, cùng với Nho giáo lan truyền mạnh mẽ, là nghệ thuật tạo hình Đông kinh- Lam kinh với hoa văn rồng mây, đao lửa. Từ đó hình tượng sư tử có mạnh mẽ, tinh xảo hơn, nhưng cũng không hề khoe nanh, múa vuốt; trái lại mỗi chi tiết càng mềm mại, không thể hiện cơ bắp nhưng cuồn cuộn sức sống tâm linh thông qua hoa văn đao lửa. Đến thời Nguyễn, con nghê, con lân, con sư tử… gần như đồng hóa với nhau. Chỉ cần đến với các di tích lăng tẩm của cố đô Huế chúng ta sẽ bắt gặp không biết bao nhiêu hình tượng con nghê thuần Việt. Có nhiều ý kiến cho rằng, con nghê được hình tượng hóa từ trâu và chó, hai con vật gắn với nếp sống và lao động của người Việt. Nhiều nhà nghiên cứu thì lại chỉ ra con nghê thời Nguyễn là tổng hợp của sư tử thời Lý- Trần- Lê, giữa Phật giáo và Nho giáo.

Ở ĐBSCL, vẫn còn những sư tử đá thuần Việt. Tại Miếu Đức Cao Hoàng (Miếu Gia Long), chợ Nước Xoáy, xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, có 2 sư tử đá đặt trước Miếu đúng điêu khắc thời Nguyễn: miệng ngậm, nhe răng cười… Người dân địa phương gọi là ông lân, nhưng là một dạng hình tượng của sư tử. Có thể bắt gặp hình tượng sư tử tương tự ở chùa Bà Thiên Hậu, Vĩnh Long; chùa Bà Tuệ Thanh, đường Nguyễn Trãi, quận 5, TP Hồ Chí Minh… Người dân gọi ông lân cũng có lý, vì tượng giống con lân đang cười hỉ hả, hoa văn trên cổ nó giống như xâu chuỗi bồ đề, dáng uy nghi đúng hình tượng Tam Công.

Còn có chùa Thanh Lương, ở xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, lưu giữ hai tượng sư tử Phù Nam, tư thế xuống tấn, miệng cười hở hai hàm răng nhưng không có nanh, vuốt. Linh vật làm cho chùa trang nghiêm, thoát tục… Ngoài ra còn nhiều sư tử đá dân gian thuần Việt được thờ trong các khu di tich lịch sử văn hóa, tiêu biểu như cặp sư tử ở Công Thần Miếu, Vĩnh Long.

***

Trước sự phổ biến của sư tử đá ngoại lai, không thuần Việt, nhà nghiên cứu văn hóa Nam bộ Trương Ngọc Tường cho rằng: Chuyện giao thoa, du nhập văn hóa là chuyện của ngàn đời nay. Vấn đề là chúng ta phải biết cái quý trong nhà mình trước, thì mới thấy cái độc đáo của láng giềng để học hỏi. Hình tượng sư tử miễn đừng lấy cơ bắp, móng vuốt… làm chi tiết phô trương, thì cứ sử dụng thoải mái trong đời sống. Đối với các di tích lịch sử, tôn giáo, tượng sư tử đá nào trái với truyền thống văn hóa thì cơ quan quản lý nên kiểm tra cho dời đến nơi thích hợp.

Nguyễn Ngọc

Bạn đang xem bài viết Múa Sư Tử Mèo: Đặc Sắc Văn Hóa Dân Tộc Tày, Nùng Xứ Lạng trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!