Xem Nhiều 1/2023 #️ Sự Thù Thắng Của Pháp Hội @ Bạch Dương Kì Blog :: 隨意窩 Xuite日誌 # Top 7 Trend | Duongveyeuthuong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sự Thù Thắng Của Pháp Hội @ Bạch Dương Kì Blog :: 隨意窩 Xuite日誌 # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Thù Thắng Của Pháp Hội @ Bạch Dương Kì Blog :: 隨意窩 Xuite日誌 mới nhất trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

( ( ( ( Bức tranh này là do một vị họa sĩ người Indonesia có mắt âm dương vẽ lại xuống cảnh tượng hư không của lúc mở pháp hội tại Quang Pháp Đàn của Indonesia . Bốn phía xung quanh pháp hội đều là phật quang phổ chiếu, có Tứ Đại Pháp Luật Chủ gồm Quan Thánh Đế Quân ngay chính giữa phía trước ), ngay chính giữa phía sau ), bên phải ), bên trái ) dẫn theo các thiên binh thiên tướng hộ pháp.

Phía trên có Chư Thiên Tiên Phật lâm đàn, trình tường. Phía bên trái có , Quán Thế Âm Bồ Tát giáng nước cam lồ, Địa Tạng Cổ Phật, Di Lặc Cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Đạt Ma Tổ Sư, Giêsu Cơ Đốc ngũ giáo thánh nhân .

Sư Tôn Sư Mẫu thì từ trên đài sen ở phía trên tay phải đáp xuống, đến phía bên ngoài trước phật đường, quỳ xuống hướng về vô số những oan thân trái chủ của các lớp viên để khấu đầu cầu tình ( các oan thân trái chủ là rất nhiều những quỷ hồn vây xung quanh bên trái bên phải và phía trước phật đường ) , Sư tôn sư mẫu khẩn cầu họ tạm thời chớ đòi các món nghiệp nợ , để cho các lớp viên có thể yên tâm học đạo; phía sau phật đường thì là rất nhiều các đời tổ tiên của các lớp viên đang nghe giảng.

Vị đạo thân người indonesia này vốn chẳng hiểu biết văn hóa trung hoa mà rốt cuộc lại có thể vẽ phong cách ăn mặc, trang sức của các vị tiên phật cổ đại của trung quốc sinh động như thật, quả thật khiến cho người ta chẳng thể nghĩ bàn.

Cảnh tượng vĩ đại của pháp hội đã có quá nhiều người tận mắt nhìn thấy; có một số người là bẩm sinh có mắt âm dương nhìn thấy, có một số người là sau khi trải qua tu luyện có mắt âm dương nhìn thấy, có một số người là lúc linh tánh xuất du nhìn thấy, có một số người là do lúc Tiên Phật dẫn linh tánh họ đi du ngoạn nhìn thấy. Từ những quốc gia khác nhau, địa điểm khác nhau, những người có tín ngưỡng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau…cảnh tượng vĩ đại mà họ đã nhìn thấy đều đại thể là giống nhau, điều đó đã chứng minh sự tồn tại của linh tánh và sự tôn quý của việc cầu đạo. Trên đời chẳng có chuyện kỳ lạ gì là không có, chẳng phải chỉ có mắt nhìn thấy mới là thật. Khi mắt chúng ta chẳng thể nhìn thấy thì những sự việc của vũ trụ vẫn cứ tồn tại như vậy , duy chỉ có dùng ” tâm ” thật tốt mà đi thể hội, từ từ mà đi tìm ra chứng cứ thì cũng có thể sinh ra lòng tin chẳng thể sánh được.

Nguyên Do của Pháp Hội

1. Ví như mới thi đậu vào một trường nào đó, nhưng đối với trường này ( đạo ) chưa hiểu rõ, còn pháp hội thì ví như việc huấn luyện các sinh viên mới, huấn luyện sinh viên mới hai, ba ngày để họ có nhận thức rõ ràng hơn đối với trường học ( đạo ).

2. Cái gì là pháp hội ? Pháp : tâm pháp ; Hội : nhân duyên tụ hội

3. Ví như Kinh Kim Cang là do Phật Đà đã nói ra vào pháp hội lần thứ 9 trong bốn nơi 16 hội thời Bát Nhã.

( a ) Pháp bình đẳng : cần phải có 3 nhân tố chín muồi :

1. Địa ( nơi chốn ) 2. Nhân ( con người ) 3. Thời ( thời cơ )

1. Địa ( nơi chốn ) 2. Nhân ( con người ) 3. Thời ( thời cơ ) 4. Sự

: phải có phật đường, đạo tràng trang nghiêm

: Phải có thính chúng đến nghe pháp

Thính chúng cần phải có trí tuệ nghe pháp

( Phải có Điểm truyền sư, giảng sư thuyết pháp, có các nhân viên bàn sự. )

: Cần phải có cơ duyên trùng hợp ngẫu nhiên, chín muồi và tiên phật trợ đạo.

( Thời đã đến những năm tam kỳ mạt kiếp, lòng người chẳng còn tốt như người xưa, đạo đức luân vong, ơn trên từ bi khai ân, đại khai phổ độ, mở khoa tuyển lớn, Minh Sư giáng thế, cứu độ những người hữu duyên rời khổ đắc lạc. )

: Phật có nói rằng : sự chuẩn bị của pháp vô thượng cần phải phối hợp những đệ tử có trí tuệ, căn cơ sâu thì mới nói, nếu không thì không nói và chờ đợi cơ duyên.

Các đệ tử cần phải ngộ trên mức của pháp bình đẳng thì mới có ” pháp bí mật ” chẳng thể nói , do vậy cần phải âm thầm quan sát nhất cử nhất động của phật và lưu ý những hiển thị của thật tướng của những cử chỉ ấy.

Khi xưa Phật Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp 49 năm mới mở được 16 lần pháp hội, có thể thấy rằng việc mở pháp hội chẳng dễ.

Vì sao mở pháp hội ? Ý nghĩa của pháp hội ?

1. Là con đường từ mê chuyển sang ngộ : Mỗi một vị đạo thân vừa mới cầu đạo, tuy rằng có nghe giảng sư giảng giải qua về đạo nghĩa, tam bảo, nhưng do quá trình cầu đạo bị trở ngại về thời gian, những đạo lý hấp thu được rốt cuộc cũng chỉ có giới hạn. Do vậy, tham gia pháp hội là một cơ hội để vận dụng thời gian ngắn nhất để gặt hái được kiến thức đạo học tương đối nhiều

Khai phát then chốt sự chuyển biến của việc học, tu, bàn đạo

Cầu đạo giống như người nông dân cày ruộng hạ chủng . Nếu chẳng thêm quá trình nhổ trừ cỏ, bón phân, chăm sóc là không cách nào nở ra kết quả tốt đẹp được. Cùng lẽ đó, sau khi cầu đạo nếu không tiếp tục học tu đạo, cũng giống như người nông dân hạ chủng rồi mà chẳng chăm sóc, vậy thì thật đáng tiếc. Cho nên, cầu đạo, tham gia pháp hội là sự hiểu biết đối với đạo nghĩa, để khải phát lòng tin học tu đạo, hiểu rõ đại đạo thù thắng và cũng có cơ hội tham gia bàn đạo hành công liễu nguyện .

3. Khẳng định bản thân, hiểu rõ ý nghĩa thật sự của cuộc đời con người .

Tham gia pháp hội mở ra cho chúng ta một cánh cửa để giải ra vấn đề. Pháp hội có những lời từ bi của tiên phật, lời khuyên dạy khích lệ ra sức nỗ lực thực hành đạo hiếu của Tiền Nhân, nhân sanh chân đế của Điểm Truyền Sư và Các giảng sư, những ấn chứng của kinh điển …tất cả đều là tập hợp tinh thần sức lực, thời gian bỏ vào của mỗi một vị Tiền Hiền, những lời nói phát ra từ những cảm xúc tận đáy lòng về cuộc đời dụng tâm tu đạo bàn đạo, những lời nói hay đẹp mang đậm kinh nghiệm trí tuệ, khai phóng ra ánh sáng và nhiệt lượng của sinh mệnh, là bộ từ điển tham khảo để các đạo thân tuyển chọn những ưu điểm của người khác bù vào những khuyết điểm của mình .

4. Hiển hiện rõ đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật :

Nay Đạo đại khai phổ độ, Lão Tiền Nhân và Tiền Nhân tu bàn đạo gần 50 năm, những pháp hội đã tổ chức ở các đạo trường trong và ngoài nước đã hơn ngàn đợt trở lên, những lớp viên đã tham dự qua pháp hội đạt đến trên triệu người , Thánh sự này sao có thể là giả được. Cảnh vĩ đại này tuyệt đối chẳng phải là chỉ có mỗi sức người làm thành, còn có sự tôn quý của thiên mệnh, sự từ mẫn của ơn trên, lại cộng thêm sự từ bi của thầy là thật, đức hạnh của Lão Tiền Nhân là thật, tâm nguyện mà Tiền Nhân đã phát là thật , cộng thành đại sự, đấy đều có thể chứng minh đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật.

Chúng ta cho nên muốn thật sự học đạo, tu đạo thì nhất định phải tham gia pháp hội, hiểu rõ chân đế ( đắc đạo rồi, nếu chẳng thật sự tu đạo học đạo, chẳng phải là vào núi báu mà trở về tay không hay sao ? ý nghĩa thật sự ) của đạo mới có thể giúp bản thân mình làm thế nào học đạo, tiến một bước lập chí lập phẩm để báo đáp Thiên Ân Sư Đức.

1.Hiểu rõ nhân sanh chân đế ( ý nghĩa thật sự của đời người )

3.Nhờ vào việc nghe giảng giải và lực lượng của tiên phật để mở ra lòng tin và tâm bồ đề.

4. Phát lại tâm nguyện, dựa vào nguyện lực để vượt ra khỏi nghiệp lực của bản thân mình 。

5. Tận đại đại hiếu, khiến cho Tổ Tiên cũng được triêm quang, có thể cùng đến nghe kinh thuyết pháp .

7.Pháp hội là do khổ tâm của Tiền Nhân để thành toàn đạo thân mà thiết lập.

Pháp hội mỗi một lần mở ra thì kinh thiên động địa, trời và người cùng bàn ( làm ), cơ hội trong một đời chỉ dự một lần, cơ hội khó mà có được.

Lúc Tiền Nhân khai hoang đạo trường Vân Lâm, đã từng ở trong một pháp hội nọ, có một vị lớp viên khôn đạo khi nghe Tiền Nhân giảng về ” Đạo Hiếu ” , nghĩ đến đủ thứ các tình cảnh cha của cô ấy lúc còn sống cưng yêu cô ấy, gần gũi ấm áp vô hạn, nhưng nay lại là người trời vĩnh viễn cách biệt. ” Cây muốn tịnh nhưng gió chẳng ngừng, con muốn nuôi nhưng song thân không đợi “, nhất thời sự bi thương tràn về, buồn bã vạn phần. Lúc này, đột nhiên ở trong phật điện, cô nhìn thấy cha xuất hiện ở trước mắt cô, trong tay cầm một đóa sen trắng, vẻ ngoài an tường quỳ ở trước phật điện lắng nghe bài giảng, thỉnh thoảng cũng quay đầu lại cười với cô một cái . Lúc ban đầu cô rất kinh ngạc, tưởng rằng là tự mình đã hoa mắt nhìn sai rồi. Chính là vào lúc này cô nghe thấy cha cô nói với cô rằng : ” chớ có kinh ngạc, cha quả thật là ở đây ! Cha chính là đã triêm quang của con, mới có thể đến hiện trường pháp hội nghe bài. Tuy rằng con thì là ngồi, cha thì là quỳ, thế nhưng đối với những quỷ hồn chúng tôi mà nói, đấy đã là ân huệ lớn nhất rồi. Con chẳng cần lo cho ta, con phải an tâm mà nghe lớp ” . Cô nhìn hình bóng sau lưng cha, ông đang quỳ nơi đó nghe lớp một cách rất an tường, nhìn rồi cứ mãi rơi nước mắt. Sau khi nghe bài giảng của Đại Cô xong, có dẫn bảo sư và nhân viên phục vụ đến hỏi thăm cô rằng : ” cô có chỗ nào không khỏe vậy ? ” , cô mới đem cảnh tượng lúc nãy kể lại cho mọi người nghe. Có một vị đạo thân thâm niên nói với mọi người rằng : ” Lời của tiên phật nói quả chẳng sai ! Con cháu tại thế nếu có thể đến dự pháp hội, tổ tiên của họ sẽ được triêm quang, có thể đến chỗ của Địa Tạng Cổ Phật lãnh một đóa sen trắng, quỳ ở hiện trường pháp hội mà nghe lớp. Từ sự hiện thân thuyết pháp của cô gái này, càng ấn chứng thêm sự bảo quý của đại đạo, đấy cũng là cơ hội tốt để phận làm con chúng ta tận đại hiếu ” . Sau đó cô chẳng còn tận mắt nhìn thấy dung mạo của cha lần nữa, thế nhưng cô tin rằng cha chính là vì để ấn chứng cho sự tôn quý của đạo nên mới hiện thân cho cô xem.

Đã từng trong một lần pháp hội nọ, có một gia đình cả nhà đều đến tham dự, thế nhưng mỗi người trong số họ đều chẳng để tâm, chẳng tập trung chú ý đến, chẳng dụng tâm nghe lớp . Pháp hội ngày thứ nhất có nghe mà chẳng hiểu , trôi qua một cách mơ mơ màng màng. Sau khi pháp hội kết thúc trở về nhà, đứa con gái nhỏ nhất của gia đình này nói với các chị gái rằng : ” các chị à, các chị thật là có lỗi với ông nội ! Em nhìn thấy ông nội của gia đình nhà người ta thì hoa sen trong tay nở càng lúc càng to, càng lúc càng sum suê tươi tốt, còn hoa sen mà ông nội của chúng ta cầm thì lại càng lúc càng khô héo. Ông lại còn ở đó tự oán tự than rằng : ” con cháu của mình cớ sao lại chẳng ra hồn, chẳng nỗ lực cầu tiến gì ! “. Các chị à ! các chị quả thật là không nên rồi ! ” . Các chị vẫn chưa tin những gì mà em gái đã nhìn thấy nghe thấy, mãi cho đến ngày thứ hai đến pháp hội hỏi thăm mới biết quả thật là có sự giảng giải về hoa sen trắng, do đó họ bèn chẳng dám chểnh mảng, chỉ còn cách dụng tâm mà nghe bài giảng. Sau đó các chị lại hỏi cô em gái rằng : ” em nhìn thấy ông nội bây giờ thế nào rồi ? ” . Em gái trả lời rằng : ” trên gương mặt của ông nội rốt cuộc cũng đã có sự mỉm cười rồi, thế nhưng đóa sen trắng của ông vẫn không sum suê tươi tốt, sáng sủa bằng đóa sen trắng của ông cụ quỳ bên cạnh ông ” . Sau đó những người của cái gia đình này càng phát tâm, vào lúc pháp hội lần sau, chẳng những cả nhà đều đến, vả lại còn ngay đến những bạn thân hàng xóm bên cạnh nhà cũng đều dẫn đi theo, em gái nói : ” lần này đóa sen trắng của ông nội trở nên rất sum suê tươi tốt, rất sáng rồi ! ” .

Ấn Chứng về sự thù thắng của việc tham dự pháp hội – Tổ Tiên triêm quang

Vốn dĩ muốn quay về lại bên trong phật điện của lầu 5, nhưng lại bị Pháp Luật Chủ cản lại ở ngoài cửa, và khóc lóc gây ồn ào ở ban công bên ngoài phật điện . Điểm Truyền Sư, Giảng Sư và các vị bàn sự nhân viên nhìn thấy bèn đi ra ngoài quan sát. Lớp viên ( vẫn còn đang bị vong linh của mẹ cô nhập vào người ) dùng tiếng việt nói một cách buồn bã đau lòng rằng : ” tôi đã vất vả nuôi dưỡng đứa con gái này, thật chẳng dễ dàng gì để cho con bé đi Đài Loan làm việc, chính là vì để cải thiện cái gia đình nghèo khổ vất vả này. Sáu năm trước người mẹ già như tôi đây đã lìa khỏi thế gian, đọa vào địa ngục chịu khổ chịu nạn, nay thật chẳng dễ gì con gái có cơ hội đến dự pháp hội, để cho tôi cũng có cơ hội lên được phật điện thù thắng trang nghiêm này mà được triêm phật lực gia trì của thiên ân sư đức, để tôi có thể tạm thời thoát lìa đau khổ. Thế nhưng cũng bởi vì con gái nhất thời muốn rời khỏi phật đường, khiến tôi nghĩ đến việc lại phải quay về lại địa ngục đau khổ, bèn vô cùng buồn bã đau lòng . Xin các vị Tiền Hiền hãy giúp đỡ con gái tôi có thể dự xong hết pháp hội “.

Điểm Truyền Sư và các giảng sư thông qua sự phiên dịch của các vị đạo thân việt nam, mời vong linh sau khi rời khỏi thân xác đứa con gái bèn sẽ giúp đỡ dẫn dắt cô ấy có thể dự pháp hội một cách thuận lợi. Vào tiết cuối cùng nhất của ngày hôm đó ( Hiếu Đạo ) khi phát toàn bộ đoạn phim ra cho các vị đạo thân Việt Nam xem, Điểm Truyền Sư nhân cơ hội này đem sự tích hiển hóa này nói lại cho lớp viên nghe, dưới bục bèn vang lên những tiếng khóc nức nở, cảm nhận được sự thù thắng của pháp hội. Cuối cùng Điểm Truyền Sư cũng khích lệ các vị đạo thân, mời các vị tuần tới nhất định còn phải quay lại để bế ban lập nguyện ( bởi vì phần lớn các đạo thân việt nam ngày thứ bảy vẫn phải đi làm, kì nghỉ một lần khó mà sắp hai ngày, để tiện lợi cho họ mà dùng hai ngày chủ nhật của hai tuần lễ để mở xong pháp hội ).

Sự Thù Thắng Của Pháp Hội

( ( ( ( Bức tranh này là do một vị họa sĩ người Indonesia có mắt âm dương vẽ lại xuống cảnh tượng hư không của lúc mở pháp hội tại Quang Pháp Đàn của Indonesia . Bốn phía xung quanh pháp hội đều là phật quang phổ chiếu, có Tứ Đại Pháp Luật Chủ gồm Quan Thánh Đế Quân ngay chính giữa phía trước ), ngay chính giữa phía sau ), bên phải ), bên trái ) dẫn theo các thiên binh thiên tướng hộ pháp.

Phía trên có Chư Thiên Tiên Phật lâm đàn, trình tường. Phía bên trái có , Quán Thế Âm Bồ Tát giáng nước cam lồ, Địa Tạng Cổ Phật, Di Lặc Cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Đạt Ma Tổ Sư, Giêsu Cơ Đốc ngũ giáo thánh nhân .

Sư Tôn Sư Mẫu thì từ trên đài sen ở phía trên tay phải đáp xuống, đến phía bên ngoài trước phật đường, quỳ xuống hướng về vô số những oan thân trái chủ của các lớp viên để khấu đầu cầu tình ( các oan thân trái chủ là rất nhiều những quỷ hồn vây xung quanh bên trái bên phải và phía trước phật đường ) , Sư tôn sư mẫu khẩn cầu họ tạm thời chớ đòi các món nghiệp nợ , để cho các lớp viên có thể yên tâm học đạo; phía sau phật đường thì là rất nhiều các đời tổ tiên của các lớp viên đang nghe giảng.

Vị đạo thân người indonesia này vốn chẳng hiểu biết văn hóa trung hoa mà rốt cuộc lại có thể vẽ phong cách ăn mặc, trang sức của các vị tiên phật cổ đại của trung quốc sinh động như thật, quả thật khiến cho người ta chẳng thể nghĩ bàn.

Cảnh tượng vĩ đại của pháp hội đã có quá nhiều người tận mắt nhìn thấy; có một số người là bẩm sinh có mắt âm dương nhìn thấy, có một số người là sau khi trải qua tu luyện có mắt âm dương nhìn thấy, có một số người là lúc linh tánh xuất du nhìn thấy, có một số người là do lúc Tiên Phật dẫn linh tánh họ đi du ngoạn nhìn thấy. Từ những quốc gia khác nhau, địa điểm khác nhau, những người có tín ngưỡng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau…cảnh tượng vĩ đại mà họ đã nhìn thấy đều đại thể là giống nhau, điều đó đã chứng minh sự tồn tại của linh tánh và sự tôn quý của việc cầu đạo. Trên đời chẳng có chuyện kỳ lạ gì là không có, chẳng phải chỉ có mắt nhìn thấy mới là thật. Khi mắt chúng ta chẳng thể nhìn thấy thì những sự việc của vũ trụ vẫn cứ tồn tại như vậy , duy chỉ có dùng ” tâm ” thật tốt mà đi thể hội, từ từ mà đi tìm ra chứng cứ thì cũng có thể sinh ra lòng tin chẳng thể sánh được.

Nguyên Do của Pháp Hội

1. Ví như mới thi đậu vào một trường nào đó, nhưng đối với trường này ( đạo ) chưa hiểu rõ, còn pháp hội thì ví như việc huấn luyện các sinh viên mới, huấn luyện sinh viên mới hai, ba ngày để họ có nhận thức rõ ràng hơn đối với trường học ( đạo ).

2. Cái gì là pháp hội ? Pháp : tâm pháp ; Hội : nhân duyên tụ hội

3. Ví như Kinh Kim Cang là do Phật Đà đã nói ra vào pháp hội lần thứ 9 trong bốn nơi 16 hội thời Bát Nhã.

( a ) Pháp bình đẳng : cần phải có 3 nhân tố chín muồi :

1. Địa ( nơi chốn ) 2. Nhân ( con người ) 3. Thời ( thời cơ )

1. Địa ( nơi chốn ) 2. Nhân ( con người ) 3. Thời ( thời cơ ) 4. Sự

: phải có phật đường, đạo tràng trang nghiêm

: Phải có thính chúng đến nghe pháp

Thính chúng cần phải có trí tuệ nghe pháp

( Phải có Điểm truyền sư, giảng sư thuyết pháp, có các nhân viên bàn sự. )

: Cần phải có cơ duyên trùng hợp ngẫu nhiên, chín muồi và tiên phật trợ đạo.

( Thời đã đến những năm tam kỳ mạt kiếp, lòng người chẳng còn tốt như người xưa, đạo đức luân vong, ơn trên từ bi khai ân, đại khai phổ độ, mở khoa tuyển lớn, Minh Sư giáng thế, cứu độ những người hữu duyên rời khổ đắc lạc. )

: Phật có nói rằng : sự chuẩn bị của pháp vô thượng cần phải phối hợp những đệ tử có trí tuệ, căn cơ sâu thì mới nói, nếu không thì không nói và chờ đợi cơ duyên.

Các đệ tử cần phải ngộ trên mức của pháp bình đẳng thì mới có ” pháp bí mật ” chẳng thể nói , do vậy cần phải âm thầm quan sát nhất cử nhất động của phật và lưu ý những hiển thị của thật tướng của những cử chỉ ấy.

Khi xưa Phật Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp 49 năm mới mở được 16 lần pháp hội, có thể thấy rằng việc mở pháp hội chẳng dễ.

Vì sao mở pháp hội ? Ý nghĩa của pháp hội ?

1. Là con đường từ mê chuyển sang ngộ : Mỗi một vị đạo thân vừa mới cầu đạo, tuy rằng có nghe giảng sư giảng giải qua về đạo nghĩa, tam bảo, nhưng do quá trình cầu đạo bị trở ngại về thời gian, những đạo lý hấp thu được rốt cuộc cũng chỉ có giới hạn. Do vậy, tham gia pháp hội là một cơ hội để vận dụng thời gian ngắn nhất để gặt hái được kiến thức đạo học tương đối nhiều

Khai phát then chốt sự chuyển biến của việc học, tu, bàn đạo

Cầu đạo giống như người nông dân cày ruộng hạ chủng . Nếu chẳng thêm quá trình nhổ trừ cỏ, bón phân, chăm sóc là không cách nào nở ra kết quả tốt đẹp được. Cùng lẽ đó, sau khi cầu đạo nếu không tiếp tục học tu đạo, cũng giống như người nông dân hạ chủng rồi mà chẳng chăm sóc, vậy thì thật đáng tiếc. Cho nên, cầu đạo, tham gia pháp hội là sự hiểu biết đối với đạo nghĩa, để khải phát lòng tin học tu đạo, hiểu rõ đại đạo thù thắng và cũng có cơ hội tham gia bàn đạo hành công liễu nguyện .

3. Khẳng định bản thân, hiểu rõ ý nghĩa thật sự của cuộc đời con người .

Tham gia pháp hội mở ra cho chúng ta một cánh cửa để giải ra vấn đề. Pháp hội có những lời từ bi của tiên phật, lời khuyên dạy khích lệ ra sức nỗ lực thực hành đạo hiếu của Tiền Nhân, nhân sanh chân đế của Điểm Truyền Sư và Các giảng sư, những ấn chứng của kinh điển …tất cả đều là tập hợp tinh thần sức lực, thời gian bỏ vào của mỗi một vị Tiền Hiền, những lời nói phát ra từ những cảm xúc tận đáy lòng về cuộc đời dụng tâm tu đạo bàn đạo, những lời nói hay đẹp mang đậm kinh nghiệm trí tuệ, khai phóng ra ánh sáng và nhiệt lượng của sinh mệnh, là bộ từ điển tham khảo để các đạo thân tuyển chọn những ưu điểm của người khác bù vào những khuyết điểm của mình .

4. Hiển hiện rõ đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật :

Nay Đạo đại khai phổ độ, Lão Tiền Nhân và Tiền Nhân tu bàn đạo gần 50 năm, những pháp hội đã tổ chức ở các đạo trường trong và ngoài nước đã hơn ngàn đợt trở lên, những lớp viên đã tham dự qua pháp hội đạt đến trên triệu người , Thánh sự này sao có thể là giả được. Cảnh vĩ đại này tuyệt đối chẳng phải là chỉ có mỗi sức người làm thành, còn có sự tôn quý của thiên mệnh, sự từ mẫn của ơn trên, lại cộng thêm sự từ bi của thầy là thật, đức hạnh của Lão Tiền Nhân là thật, tâm nguyện mà Tiền Nhân đã phát là thật , cộng thành đại sự, đấy đều có thể chứng minh đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật.

Chúng ta cho nên muốn thật sự học đạo, tu đạo thì nhất định phải tham gia pháp hội, hiểu rõ chân đế ( đắc đạo rồi, nếu chẳng thật sự tu đạo học đạo, chẳng phải là vào núi báu mà trở về tay không hay sao ? ý nghĩa thật sự ) của đạo mới có thể giúp bản thân mình làm thế nào học đạo, tiến một bước lập chí lập phẩm để báo đáp Thiên Ân Sư Đức.

1.Hiểu rõ nhân sanh chân đế ( ý nghĩa thật sự của đời người )

3.Nhờ vào việc nghe giảng giải và lực lượng của tiên phật để mở ra lòng tin và tâm bồ đề.

4. Phát lại tâm nguyện, dựa vào nguyện lực để vượt ra khỏi nghiệp lực của bản thân mình 。

5. Tận đại đại hiếu, khiến cho Tổ Tiên cũng được triêm quang, có thể cùng đến nghe kinh thuyết pháp .

7.Pháp hội là do khổ tâm của Tiền Nhân để thành toàn đạo thân mà thiết lập.

Pháp hội mỗi một lần mở ra thì kinh thiên động địa, trời và người cùng bàn ( làm ), cơ hội trong một đời chỉ dự một lần, cơ hội khó mà có được.

Lúc Tiền Nhân khai hoang đạo trường Vân Lâm, đã từng ở trong một pháp hội nọ, có một vị lớp viên khôn đạo khi nghe Tiền Nhân giảng về ” Đạo Hiếu ” , nghĩ đến đủ thứ các tình cảnh cha của cô ấy lúc còn sống cưng yêu cô ấy, gần gũi ấm áp vô hạn, nhưng nay lại là người trời vĩnh viễn cách biệt. ” Cây muốn tịnh nhưng gió chẳng ngừng, con muốn nuôi nhưng song thân không đợi “, nhất thời sự bi thương tràn về, buồn bã vạn phần. Lúc này, đột nhiên ở trong phật điện, cô nhìn thấy cha xuất hiện ở trước mắt cô, trong tay cầm một đóa sen trắng, vẻ ngoài an tường quỳ ở trước phật điện lắng nghe bài giảng, thỉnh thoảng cũng quay đầu lại cười với cô một cái . Lúc ban đầu cô rất kinh ngạc, tưởng rằng là tự mình đã hoa mắt nhìn sai rồi. Chính là vào lúc này cô nghe thấy cha cô nói với cô rằng : ” chớ có kinh ngạc, cha quả thật là ở đây ! Cha chính là đã triêm quang của con, mới có thể đến hiện trường pháp hội nghe bài. Tuy rằng con thì là ngồi, cha thì là quỳ, thế nhưng đối với những quỷ hồn chúng tôi mà nói, đấy đã là ân huệ lớn nhất rồi. Con chẳng cần lo cho ta, con phải an tâm mà nghe lớp ” . Cô nhìn hình bóng sau lưng cha, ông đang quỳ nơi đó nghe lớp một cách rất an tường, nhìn rồi cứ mãi rơi nước mắt. Sau khi nghe bài giảng của Đại Cô xong, có dẫn bảo sư và nhân viên phục vụ đến hỏi thăm cô rằng : ” cô có chỗ nào không khỏe vậy ? ” , cô mới đem cảnh tượng lúc nãy kể lại cho mọi người nghe. Có một vị đạo thân thâm niên nói với mọi người rằng : ” Lời của tiên phật nói quả chẳng sai ! Con cháu tại thế nếu có thể đến dự pháp hội, tổ tiên của họ sẽ được triêm quang, có thể đến chỗ của Địa Tạng Cổ Phật lãnh một đóa sen trắng, quỳ ở hiện trường pháp hội mà nghe lớp. Từ sự hiện thân thuyết pháp của cô gái này, càng ấn chứng thêm sự bảo quý của đại đạo, đấy cũng là cơ hội tốt để phận làm con chúng ta tận đại hiếu ” . Sau đó cô chẳng còn tận mắt nhìn thấy dung mạo của cha lần nữa, thế nhưng cô tin rằng cha chính là vì để ấn chứng cho sự tôn quý của đạo nên mới hiện thân cho cô xem.

Đã từng trong một lần pháp hội nọ, có một gia đình cả nhà đều đến tham dự, thế nhưng mỗi người trong số họ đều chẳng để tâm, chẳng tập trung chú ý đến, chẳng dụng tâm nghe lớp . Pháp hội ngày thứ nhất có nghe mà chẳng hiểu , trôi qua một cách mơ mơ màng màng. Sau khi pháp hội kết thúc trở về nhà, đứa con gái nhỏ nhất của gia đình này nói với các chị gái rằng : ” các chị à, các chị thật là có lỗi với ông nội ! Em nhìn thấy ông nội của gia đình nhà người ta thì hoa sen trong tay nở càng lúc càng to, càng lúc càng sum suê tươi tốt, còn hoa sen mà ông nội của chúng ta cầm thì lại càng lúc càng khô héo. Ông lại còn ở đó tự oán tự than rằng : ” con cháu của mình cớ sao lại chẳng ra hồn, chẳng nỗ lực cầu tiến gì ! “. Các chị à ! các chị quả thật là không nên rồi ! ” . Các chị vẫn chưa tin những gì mà em gái đã nhìn thấy nghe thấy, mãi cho đến ngày thứ hai đến pháp hội hỏi thăm mới biết quả thật là có sự giảng giải về hoa sen trắng, do đó họ bèn chẳng dám chểnh mảng, chỉ còn cách dụng tâm mà nghe bài giảng. Sau đó các chị lại hỏi cô em gái rằng : ” em nhìn thấy ông nội bây giờ thế nào rồi ? ” . Em gái trả lời rằng : ” trên gương mặt của ông nội rốt cuộc cũng đã có sự mỉm cười rồi, thế nhưng đóa sen trắng của ông vẫn không sum suê tươi tốt, sáng sủa bằng đóa sen trắng của ông cụ quỳ bên cạnh ông ” . Sau đó những người của cái gia đình này càng phát tâm, vào lúc pháp hội lần sau, chẳng những cả nhà đều đến, vả lại còn ngay đến những bạn thân hàng xóm bên cạnh nhà cũng đều dẫn đi theo, em gái nói : ” lần này đóa sen trắng của ông nội trở nên rất sum suê tươi tốt, rất sáng rồi ! ” .

Ấn Chứng về sự thù thắng của việc tham dự pháp hội – Tổ Tiên triêm quang

Vốn dĩ muốn quay về lại bên trong phật điện của lầu 5, nhưng lại bị Pháp Luật Chủ cản lại ở ngoài cửa, và khóc lóc gây ồn ào ở ban công bên ngoài phật điện . Điểm Truyền Sư, Giảng Sư và các vị bàn sự nhân viên nhìn thấy bèn đi ra ngoài quan sát. Lớp viên ( vẫn còn đang bị vong linh của mẹ cô nhập vào người ) dùng tiếng việt nói một cách buồn bã đau lòng rằng : ” tôi đã vất vả nuôi dưỡng đứa con gái này, thật chẳng dễ dàng gì để cho con bé đi Đài Loan làm việc, chính là vì để cải thiện cái gia đình nghèo khổ vất vả này. Sáu năm trước người mẹ già như tôi đây đã lìa khỏi thế gian, đọa vào địa ngục chịu khổ chịu nạn, nay thật chẳng dễ gì con gái có cơ hội đến dự pháp hội, để cho tôi cũng có cơ hội lên được phật điện thù thắng trang nghiêm này mà được triêm phật lực gia trì của thiên ân sư đức, để tôi có thể tạm thời thoát lìa đau khổ. Thế nhưng cũng bởi vì con gái nhất thời muốn rời khỏi phật đường, khiến tôi nghĩ đến việc lại phải quay về lại địa ngục đau khổ, bèn vô cùng buồn bã đau lòng . Xin các vị Tiền Hiền hãy giúp đỡ con gái tôi có thể dự xong hết pháp hội “.

Điểm Truyền Sư và các giảng sư thông qua sự phiên dịch của các vị đạo thân việt nam, mời vong linh sau khi rời khỏi thân xác đứa con gái bèn sẽ giúp đỡ dẫn dắt cô ấy có thể dự pháp hội một cách thuận lợi. Vào tiết cuối cùng nhất của ngày hôm đó ( Hiếu Đạo ) khi phát toàn bộ đoạn phim ra cho các vị đạo thân Việt Nam xem, Điểm Truyền Sư nhân cơ hội này đem sự tích hiển hóa này nói lại cho lớp viên nghe, dưới bục bèn vang lên những tiếng khóc nức nở, cảm nhận được sự thù thắng của pháp hội. Cuối cùng Điểm Truyền Sư cũng khích lệ các vị đạo thân, mời các vị tuần tới nhất định còn phải quay lại để bế ban lập nguyện ( bởi vì phần lớn các đạo thân việt nam ngày thứ bảy vẫn phải đi làm, kì nghỉ một lần khó mà sắp hai ngày, để tiện lợi cho họ mà dùng hai ngày chủ nhật của hai tuần lễ để mở xong pháp hội ).

Phương Pháp Tu Trì Của Cư Sĩ Bạch Dương Kì

Đạo là từ xưa đã có người tu rồi, mà phương pháp tu trì bây giờ và trước đây có cái gì khác biệt ? Trước khi muốn tham thảo điểm này, trước hết hãy tìm hiểu vì sao phải tu trì ? Lấy chiếc quạt điện mà nói, nếu bị sự cố ngừng rồi là do công tắc đóng mở thì phải sửa công tắc đóng mở mới có thể khôi phục lại. Đối với chúng sanh mà nói, 60000 năm nay trôi trong dòng lục đạo luân hồi, tại thế gian có lúc làm người, có lúc làm súc sanh, vì sao chúng ta chưa thể siêu sanh liễu tử, chẳng được giải thoát tự tại ? Nguyên nhân này, thói xấu đến từ đâu ? phải tìm ra để trị liệu, đấy chính là tu trì.

Trước khi thiên đạo đại khai phổ độ, Thánh nhân của tam giáo mỗi vị có dạy bảo dẫn dắt rất nhiều phương pháp tu trì, đáng tiếc đều chẳng phải là đốn pháp. Chỉ nói riêng trong pháp liễu sanh tử mà Phật Như Lai đã nói thì đã có nhiều đến tám vạn bốn nghìn pháp môn, vả lại đều là tiệm pháp. Cho nên, sanh tử chẳng cách nào liễu ngay, chỉ có thể rời khỏi dần dần. Do vậy muốn tu trì trong kiếp này hy vọng siêu sanh liễu tử là chuyện tuyệt đối chẳng thể nào. Vậy thì Sư Tôn Sư Mẫu truyền thiên đạo này cho chúng ta tu trì, rốt cuộc có tương đối thù thắng và dễ tu chăng ? Nói toạc ra thì thiên đạo là tu cứu cánh nhất, phương tiện nhất. Tu đạo nếu chẳng cứu cánh cũng giống như sanh bệnh mà chẳng có kê đúng thuốc trị đúng bệnh, kết quả chỉ có thể trấn áp mà chưa thể đoạn căn ( chặt đứt tận gốc ). Trị ngọn mà chưa trị được gốc như thế chính là tu phước báo của kiếp sau. Đợi đến khi hồng phước hưởng hết rồi lại phải đi luân hồi. Chỗ thù thắng nhất của Thiên Đạo chính là truyền tam bảo tâm pháp bao hàm đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật.

Cái mà Sư Tôn Sư Mẫu lần này truyền cho gọi là ” mạt hậu nhất trước “, bởi vì chúng sanh sáu vạn năm nay sanh sanh tử tử luân hồi trong biển khổ đã đến bước rất thảm hại rồi. Vì sao lại sớm chẳng truyền, muộn chẳng truyền ? chính là đang chờ đợi thời cơ nhân duyên. Nếu đến sớm, nước rất cạn nên bạn chẳng sợ, đến muộn, nước đã ngập đến mũi rồi thì đã không kịp nữa. Cho nên vào lúc thiên vận Ngọ mùi thay thế nhau, đại khai phổ độ chính là đến đúng lúc. Vì sao bây giờ chẳng bảo bạn ngồi thiền, đến núi sâu tìm bạn luận đạo, đấy là do thời khắc nhân duyên. Sáu vạn năm nay oan bại nghiệt trái làm một lần đại thanh toán, oan trái đã tích đầy rồi, đang ở rìa mép bùng phát, cho nên vừa đúng lúc thời cơ đến, tam kì mạt kiếp, lúc tai kiếp sắp ập đến, tiên phật từ bi gánh đỡ lấy.

Từ xưa đến nay, cái mà tiên phật truyền thụ, tự tánh phật mà mọi người đều có, phát lộ ra ngoài, tức là chỉ ra bổn tánh của bạn, bạn chính là thánh nhân, là chư phật bồ tát, cảnh giới quang minh sáng ngời chính là ở đây, thập phương thế giới cũng ở phương thốn bảo điền này, thế giới hoa nghiêm ở đây, tịnh thổ nhân gian cũng ở đây, đây là nơi thuần tịnh nhất, quang minh nhất, tức là từ xưa đến nay, Phật Phật mật truyền bổn thể, sư sư mật phó bổn tâm. Có bổn thể ( linh ) chúng ta mới có thể đi đây đi đó, có thể mới có thể dụng ( mặc áo, ăn cơm ), sáu vạn năm nay chẳng biết bổn thể, cho nên dụng sai hết thảy, từ ba đời ( Nghiêu, Thuấn, Vũ ) đến nay thì đã phân chẳng rõ nhân tâm, đạo tâm rồi.

Nhân chi sơ, tánh bổn thiện ? bổn ác ? tức là thiện ác đã rơi vào đối đãi rồi. Chúng ta đắc thọ chơn truyền, truyền trực tâm của chúng ta, điểm này linh nhất, bạn và tôi đều như vậy. Cái tâm tiên thiên từ cung nê hoàn của đỉnh đầu kéo xuống, thông qua mắt có thể thấy, mũi có thể hít thở ( Thượng đế dựa vào hình dạng của ngài nặn nên hình con người bùn đất, rồi hà sinh khí vào mũi thì thành người sống có linh hồn, ) miệng có thể ăn, truyền mãi đến hệ thống tiêu hóa, đường trực tuyến này gọi là hoàng trung thông lý, lấy nguyên thần làm bảo vệ, làm trực tâm để dựa dẫm, đấy là một con đường tiên thiên mà Lão mẫu đã sanh, chẳng dạy mà hành, chẳng học mà biết.

Đạo chẳng thuộc tu, nói tu bèn rơi vào giai cấp. Sám hối, hành công liễu nguyện, độ người là quyền pháp, còn thật pháp thì có chỗ khác, bình đẳng, Lão Mẫu đã sanh ra cho chúng ta, chẳng phải do học mà có, nay con được một chỉ, phiêu phiêu nơi thiên đường, chẳng có sinh và tử, chung nhật luyện thần quang. Một chỉ của Minh Sư tuyệt đối siêu sanh liễu tử, chẳng ở chỗ tu. Nay sở dĩ phải tu là bởi vì tâm can của chúng ta đã mê muội rồi, đánh mất trực tâm mới phải tu, thật ra chỉ cần có lòng tin gìn giữ cái gốc, tùy việc màứng cảnh, làm việc mà chẳng nhận rằng mình có công lao, qua rồi thì quên đi những việc tốt mà mình đã làm, đấy là thật pháp. Sẽ chẳng vì khuyên người ăn chay hoặc đã độ vài chục người cầu đạo mà vui ba năm chưa thể quên. Đương nhiên đấy là những điều đáng vui, nhưng đối với việc siêu danh liễu tử mà nói thì vẫn chưa đạt tiêu chuẩn qua.

Sau khi đắc đạo chẳng phải là giống như phụ nữ giặt quần áo, phải dốc hết dức để tẩy rửa trắng tinh. Đạo là : nhất niệm hồi quang chiếu đại thiên ( Tạm dịch : một niệm hồi quang phản chiếu soi khắp đại thiên thế giới ) . Quay đầu lại xem, những vướng mắc níu kéo của chúng ta nhiều biết bao nhiêu, toàn bộ đều buông xả xuống hết thì được rồi, Tây thiên tuy xa nhưng trong phút chốc thì đến.

Đạo thuộc tiên thiên, nhưng mà đắc trước rồi tu sau, cái đắc trước là trực tâm, cái tu là cái tâm hậu thiên, khiến cho tâm và tánh dựa vào nhau. Con đường xưa của sáu vạn năm nay đã đi quen rồi; giờ mở ra một con đường mới, giả sử nếu chẳng có người dẫn dắt một lần, hai lần cho bạn, thì bạn sẽ chẳng đi tốt được. Niệm đầu nếu thường đi lệch rồi thì sẽ nuôi dưỡng thành thói quen như cơm bữa vậy. Đây là con đường phải tu, chân lí mọi người đã đắc được rồi, sáu vạn năm nay tự ngỡ rằng là đúng nhất định cần phải sửa lại cho đúng, lấy chân lí đạo đức làm trung tâm. Nếu phân hai chúng ta cãi nhau, sẽ trách tội nhau, nếu chẳng được đối phương nhận lỗi sai với mình trước thì mình sẽ bỏ mặc không quan tâm đến họ, đấy tức là tập khí bạo lưu mà thiền gia nói. Phàm việc gì cũng đều là tương đối, phải từ trong đó tìm ra một cái đạo trung dung; người tu đạo mà là người tiêu cực cảm thấy việc gì cũng chẳng thuận, cho rằng chẳng cần tu đạo nữa, càng tu càng phiền; người tích cực sẽ nghĩ rằng lúc không tu đạo thì sóng yên gió lặng, bình đạm nhạt nhẽo vô vị, tu rồi trái lại muôn vẻ sắc màu, có khi thầy khảo, có khi con cái khảo. Tâm cảnh của con người phải chuyển mới được, giống như một người tính tình nóng nảy, cái tánh quen đụng chạm kích động một cái thì nổi nóng liền, tiếp cận phật đường nhiều thì sẽ từ từ kiểm thảo cải tiến. Anh ta có lẽ sẽ nói rằng : tâm của tôi chẳng hư xấu, vốn dĩ là như thế, nổi nóng xong rồi thì chẳng có việc gì; bản thân anh ta chẳng có việc gì, nhưng người khác có thể đã bị tổn thương rồi.

Đạo ( linh tánh ) vốn dĩ là tốt, chẳng thuộc tu, cái phải tu chính là cái tâm này. Lục Tổ đàn kinh ghi chép : vì sao Đại sư huynh ( Thần Tú ) chẳng đắc được y bát, mà một Huệ Năng giã gạo thì lại đắc được y bát vậy ? bởi vì một vị là nhìn trên phương diện ” giáo ” : thời thời cần phất thức, vật sứ nhạ trần ai ( luôn luôn phải lau chùi, chớ để dính bụi trần ). Một vị đã ngộ cái ” bổn lai vô nhất vật, hà sứ nhạ trần ai ” ( xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi trần ? ) . Cái tâm ngay thẳng ( bổn thể ) vốn có, chẳng phải do người dạy, chẳng phải là tạo tác. Cũng như là nhìn thấy một đứa bé sắp bị xe đụng phải, bất kể người nào phát hiện thì cũng sẽ nhất định lập tức kéo đứa bé khỏi, cứu lấy nó một mạng. Cái ” thiên lí lương tâm ” ngay thẳng này là mọi người đều có. Một niệm ngay lúc ấy chẳng cần phải người ta dạy. Con người ta biết tửu sắc tài khí, tham sân si ái, đấy là cái tâm hậu thiên, phải điều chỉnh, phải tu sửa, vấn đề phải đối mặt, dụng chút công phu. Cái mà sư tôn sư mẫu truyền cho chúng ta là tâm ngay thẳng, vậy mà cái chúng ta tu lại là cái tính nóng nảy, lại thêm một chút tâm hậu thiên, ” có tôi ” sẽ có cái sĩ diện của tôi, xã hội của tôi, danh lợi của tôi, địa vị của tôi, còn trực tâm thì đánh mất rồi. Tu đạo chỉ là phải hóa bỏ đi những lòng tham, dục vọng, chấp trước này thôi.

Lúc chúng ta cầu đạo đã có lập mười điều nguyện lớn, điều thứ nhất là sau khi đắc đạo thì thành tâm bảo thủ, thật tâm sám hối ( tu luyện ). Cái gì gọi là thành tâm bảo thủ, phải bảo thủ cái gì ? Sau khi đắc đạo chẳng nhiều thêm được cái gì, cũng chẳng ít đi cái gì ( tự tánh bất tăng bất giảm ), chỉ là trước đây mê muội mất, nay ít nhiều có chút khai ngộ; trước đây đen tối hắc ám, nay ít nhiều có chút quang minh; chúng ta phải gìn giữ cái điểm linh quang này, sau khi khai quang điểm nhãn phải khiến cho tâm đăng ( ngọn đèn trong tâm ) bảo trì sự quang minh,bất luận trong gia đình hoặc xã hội, chúng ta đã tiến đạo rồi thì phải chịu đựng nổi sự hiểu lầm, hủy báng, nếu không sẽ dẫn động ra những tập tánh mà sáu vạn năm nay chưa hóa bỏ được. Do vậy, trị liệu cái này thì phải thật tâm sám hối. Các tôn giáo đều rất xem trọng sám hối, bởi vì chỉ cần là người thì phải ở chung với người, ở chung thì sẽ có những sự tình có mức độ thích hợp nhất định, phải cân nhắc nặng nhẹ mà phạm phải lỗi lầm. Chẳng sợ đã phạm lỗi, chỉ sợ chẳng sửa lỗi, chẳng phải chỉ là nhận lỗi bằng miệng mà phải phát hiện từ đáy lòng, cảm tưởng những cái không tốt của bản thân mình, đấy là trọng điểm của sám hối, sám hối càng sạch rồi thì tiến đạo sẽ càng nhanh.

Có thể nhớ lại cái lúc ấy cầu đạo muốn chúng ta bình tâm tịnh khí nhìn phật đèn, quỳ nghe lễ chúc. Tâm cảnh của chúng ta như có sóng nước, khởi lên làn sóng nhỏ rồi thì phải cẩn thận, không thể đợi đến vọt trào lên sóng bạc đầu thì đã quá chậm rồi. Trong nhị lục thời trung ( cả ngày ) lúc chúng ta thành toàn hậu học hoặc tiếp nhận chỉ thị của Tiền Hiền, ít nhiều sẽ vì một câu nói chẳng thuận tai mà trong lòng rất không thoải mái, do vậy chúng ta quan tâm chăm sóc tâm niệm phải giống như mèo bắt chuột vậy, niệm đầu khởi lên một cái thì nhanh chóng nắm bắt lấy, tâm niệm tác quái, phải nhanh chóng hồi quang phản chiếu, chớ có để cho tập khí bạo lưu dễ dàng tuôn ra. Tiền bối nói một câu nặng lời, trong lòng bèn chẳng cân bằng, vì sao chẳng chịu nổi sự mài luyện vậy ? chỉ muốn nếm ngọt mãi, trẻ sơ sinh muốn lớn lên thì phải dứt sữa, chúng ta muốn thành tựu đạo nghiệp thì phải qua được khảo nghiệm.

” Vô sanh sám hối ” cứu cánh nhất thì giống như ánh sáng mặt trời rất nhanh làm tan chảy các tảng băng vậy, thể ngộ tự tánh là không, quá khứ thì để nó qua đi, những hành vi sau này mới là quan trọng nhất. Chỉ hối hận là chẳng có ích.

Thân thể của chúng ta giống như phật đường, có lúc tâm, khẩu, ý chẳng thanh tịnh, cũng giống như quét dọn phật đường vậy, đèn mẫu ( tâm linh ) bám phủ lên bụi trần cần phải lau chùi sạch, đèn nhật nguyệt ( đôi mắt ) triêm nhiễm vết dầu dơ cũng phải lau chùi sạch. Lúc quét dọn sạch phật đường, hồi quang phản chiếu, cảm nhận được pháp mà Sư tôn sư mẫu đã truyền cho chúng ta, người sâu xa thì nhìn thấy được cái nghĩa sâu của nó, người cạn thì nhìn thấy nghĩa cạn của nó. Từ việc lau chùi sạch phật đèn thể hội được phi lễ vật thị, thính, ngôn, động ( không hợp với lễ thì không nhìn xem, nghe, nói, hành động ), từ việc quét dọn phật đường mà lãnh ngộ được rằng cũng phải quét dọn sạch sẽ tâm địa của mình, mượn nhờ vào việc mài phẳng lò bát quái mà trong lòng lãnh hội được rằng tâm địa phải từ bi, vĩnh viễn tâm bình khí hòa, bốc lên khói cát tường.

Trong vòng những năm thiên đạo phổ truyền, trọng điểm tu trì là ở chỗ nguyện chẳng thể liễu thì khó mà về cố hương. Hãy thật tốt mà hành công liễu nguyện, độ người cầu đạo là công đức lớn nhất, cứu một mạng người hơn cả xây 7 tầng tháp, huống hồ là cứu linh tánh của người có thể thoát luân hồi, siêu sanh liễu tử. Dùng việc bố thí thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới cũng chẳng cách nào sánh được với giá trị của nó ( trong kim cang kinh có nói ).

Nay phổ độ tam tào, ứng thời ứng vận, các đệ tử thiên đạo phải cùng gánh vác trách nhiệm trọng đại hoằng dương đại đạo, nhân lúc còn một hơi thở mà ra sức vì đạo, khai hoang độ thế, chú ý hành vi tu tâm tánh của mình, do vậy mà chẳng có quải ngại lo lắng, ở trong thuận cảnh hành nơi thuận cảnh, ở trong nghịch cảnh hành nơi nghịch cảnh ( chẳng vì thuận cảnh mà đi lên con đường ” hoa “, vì nghịch cảnh mà đi trên con đường ” tuyệt vọng ” ), vẫn gìn giữ sự mộc mạc chất phác, thường thanh thường tịnh, lấy việc ra sức độ người liễu nguyện, khai hoang bố đạo thì đã tự tự nhiên nhiên đi lên thiền định rồi, vả lại có thể chẳng khắc ý nhẫn nhục mà tự nhiên nhẫn nhục, người bình thường bị thiệt thòi thì không đòi lại sự công bằng thì không cam tâm, nhưng mà trong đạo thì lấy đạo làm tôn, lấy đức làm quý, bị người hủy báng, hiểu lầm thì chúng ta cho rằng có lẽ bình thường ( hoặc kiếp trước ) đã trục lợi từ người khác, làm cho họ thiệt thòi rất nhiều, nay người ta chỉ là đòi lại chút thôi, triêm được ơn trên từ bi, sớm ngày hóa giải, lấy lớn hóa nhỏ, trả lại cho người ta sớm một chút cũng tốt. ( Những oan khiếm của sáu vạn năm nay, một kiếp phải tu thành thì không thể không trả hết trong kiếp này được ).

Ra sức trong đạo trường, chẳng khắc ý mở ra diệu trí tuệ ( bát nhã ) mà tự nhiên mở ra diệu trí tuệ, thật sự phát ra lòng thành tâm muốn độ người nào đó, đi giảng đạo lý hơn nửa ngày trời mà vẫn chưa tự giác được mình nói thế nào mà có thể nói được nhiều như vậy, lại cái nào nói cũng có lý. Lần phổ độ này, Tam Tào toàn chấn động, có một số vị thần cõi khí thiên công quả chẳng đủ, toàn mượn nhờ nhục thể của người phàm để hành công, cho nên muốn độ người, trưng cầu hộ pháp của ơn trên, nhân cơ hội mà trợ đạo gia linh, dụng tâm thể ngộ, nói một lần cho người khác nghe, những đạo lý này bèn đi vào xương vào bụng, vĩnh viễn thuộc về bạn rồi.

Sự tinh tiến, bố thí, trì giới, thiền định, nhẫn nhục, trí tuệ ở trên là pháp lục độ vạn hạnh của thời cổ xưa tu bồ tát đạo, trước đây phải tu vô lượng kiếp mới có thể thành tựu, nay trong một kiếp này, chúng ta dốc hết sức độ người hành công, hoằng đạo cứu đời, trong sự bất tri bất giác mà tự nhiên thành tựu lục độ vạn hạnh, chẳng có khắc ý giới định tuệ thì lại thành tựu giới định tuệ, chẳng có khắc ý đi khắc chế những dục vọng riêng tư của bản thân khiến cho cử chỉ, lời nói hành động hợp với lễ tiết mà đến lúc sau cùng tự nhiên tràn đầy đạo khí, thiện khí xông thiên, bất tri bất giác mà thành tựu đạo nghiệp rồi. Đây chính là sự vĩ đại và thù thắng của thiên đạo, trong ý định vốn có ban đầu của Sư Tôn Sư Mẫu, muốn chúng ta hành công liễu nguyện, tuyệt đối có thể trở về cố hương.

Khẩu quyết : làm người làm việc phải có tâm từ bi của tổ sư chưởng thiên bàn, làm việc từ bi, nói lời từ bi, thành tựu đại gia đình thiên đạo.

Tiến Trình Tham Bàn Tàm Tào Và Sự Thù Thắng Của Tam Tào Phổ Độ

Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 98 tuế thứ kỷ sửu, ngày 22 tháng 2 (Tiên Phật Từ Ngữ)

Nam Hải Quan Âm Bồ Tát Khai Thị Từ Ngữ :

Giảng cứu về tam tào phổ độ là đạo lí viên mãn, các hiền sĩ muốn làm được, tất nhiên đạo học nghiên cứu cũng phải trở nên vô cùng rộng lớn, nhưng thành tựu là hoàn mỹ, toàn diện. Vì vậy tham gia tam tào phổ độ bước đầu tiên là cần phải cầu đạo, mở ra tiên thiên huyền quan khiếu, biết trước trí huệ tiên thiên nhập vào, linh quang tiên thiên cho đến năng lượng sau khi chú nhập, chư thiên tiên phật cùng hộ trì, tam tào nguyên nhân cùng trợ đạo.

. Đối với một nhóm người, nếu như chưa cầu đạo, muốn được chư thiên tiên phật hộ trì thì cần phải tu đạo vô cùng cao thâm, hoặc đã từng làm những việc đại thiện, mới có thể được Ý nghĩa của việc chư thiên tiên phật cùng hộ trì là chư thiên tiên phật, Tế Công Hoạt Phật cùng gánh một phần trách nhiệm nhân quả của người cầu đạo, để cho các con thật tốt tu đạo Chư Thiên Tiên Phật hộ trì. Mà tại thời kì đây là sự thù thắng thứ nhất của thời kì tam tào phổ độ. Tam Tào Phổ Độ, chỉ cần hiền sĩ cầu đạo, Chư Thiên Tiên Phật và Tế Công Hoạt Phật phải có trách nhiệm bảo hộ,

), nếu như hoàn toàn không có chướng ngại, cần phải quyết tâm lập nguyện thanh khẩu, thì Bước thứ hai là phải thanh khẩu như tố , sau khi cầu đạo phải quyết tâm thanh khẩu như tố ( lập nguyện ăn chay trường cho đến hơi thở cuối cùngChư Thiên Tiên Phật cùng Ân Sư của các con mới có quyền lợi vì các hiền sĩ gánh nhân quả.

Quan Âm Phật ta là tu Phật giáo mà thành Tiên Phật, nhưng hiện nay là thời kì Bạch Dương Kì, Đạo trường Bạch Dương là giảng đạo lí Bạch Dương, nói với các hiền sĩ cũng là đạo lí Bạch Dương phổ độ, vì thời kì Bạch Dương, sự khai xá thiên mệnh của Hoàng Mẫu không giống nhau, muốn mọi người phương pháp tu luyện cũng không giống nhau, vì vậy mà Chư Thiên Tiên Phật nhận Thiên Mệnh của Minh Minh Thượng Đế ban cho các hiền sĩ đạo lí cũng không giống nhau.

Bước tiếp theo, phía bên phải bên trên viết là ” Tu Đạo”

Nếu như chỉ có nghe lớp, thời gian vẫn không đủ, đạo lí vẫn chưa đủ rộng, vì vậy chỉ có đọc sách mới giúp các hiền sĩ gia tăng thêm đạo nghĩa, càng hiểu thêm về Đạo. Chỉ là trước mắt sách tam tào phổ độ bằng tiếng Hoa thì nhiều, mà các ngôn ngữ của các quốc gia khác thì chưa có nhiều, cũng thiếu nhân tài phiên dịch, đây là khiếm khuyết lớn trước mắt của Đạo trường, vì vậy các hiền sĩ nếu như có năng lực phiên dịch, hãy đem ngôn ngữ tiếng Trung phiên dịch thành các ngôn ngữ khác, phải học tập năng lực này, cho dù là phiên dịch văn tự hay là phiên dịch bạch thoại cũng cần phải cố gắng tận lực học tập.

3. Kiểm Thảo Cá Tính Của Bản Thân

Cá tính mỗi người ít hay nhiều đều không viên mãn, sẽ cùng với nhau ma sát, giữ người với người không được hòa thuận, vì vậy phải kiểm thảo, cải tiến sửa đổi cá tính của bản thân, mới có thể cùng hòa hợp với người. Tu đạo không chỉ có bản thân tu viên mãn, không chỉ có cá tính của mình tu rất tốt thì gọi là tu trì hoàn mỹ, cá tính mỗi một người không giống nhau. Bản thân tu trì được hoàn thiện còn cần phải phối hợp với người khác cũng được hoàn thiện, như vậy mới thật sự là viên mãn. Nếu như tự nhận là tu rất được tốt, nhưng bản thân có thể hòa hợp với người thường xuyên oán hận, thường xuyên hủy báng không? Tam tào phổ độ là một đại gia đình, đại đoàn thể, trong một đoàn thể sẽ có rất nhiều người có cá tính khác nhau, cùng làm việc Đạo, vì vậy mỗi người còn cần phải thay đổi bản thân, cùng phối hợp với người khác. Nhưng không phải chỉ có phối hợp với người khác, nếu như người khác sai, bản thân cũng sai theo người khác, đó có phải là hành vi vô tri. Cái gọi là phối hợp với người khác có ý nghĩa rằng nếu như người khác làm sai, có thời cơ thích hợp, ôn hoàn thành toàn, dẫn dắt giảng giải để đối phương có thể sửa đổi hướng thiện, đây mới là cùng nhau phối hợp thực sự.

Có những giới luật nào? Ví dụ như đã lập nguyện thanh khẩu, không thể lại đi ăn thịt hoặc cá, hoặc sản phẩm từ các loại động vật tạo thành, cũng không thể dùng các vật phẩm làm từ da, lông của động vật. Nếu như các sản phẩm tạo thành từ trên thân động vật nhưng không làm hại đến sinh mạng của chúng, không khiến cho động vật cảm thấy đau đớn, những sản phẩm này có thể sử dụng, đây là giới luật thanh khẩu. Phật quy trong đạo trường có rất nhiều giới luật, các vị hiền sĩ có thể nghiên cứu thêm.

Trong quá trình tu đạo còn bao hàm việc đưa ra nghi vấn, vì các hiền sĩ nếu như nghe đạo lí, đọc sách đạo, sửa đổi cá tính của bản thân và hòa hợp với người khác,…Trong những quá trình này, cũng sẽ gặp phải những chỗ đạo lí không hiểu, vì vậy cần phải đưa ra nghi vấn cho tiền hiền, như vậy quan niệm, đạo học mới càng tiến bộ, điểm này vô cùng quan trọng, bởi vì nếu như quan niệm không chính xác, tu dưỡng không có tiến bộ, thì cũng không thể duy trì được sự thành tâm đối với đạo hy sinh phụng hiến cho đến thâm nhập vào đạo, đem đạo thâm nhập vào đời sống.

chính là , các hiền sĩ nếu như học Đạo nghe đến hai từ “Giải thích đơn giản nhất của “liễu nguyện” là hành tam thí: tài thí, pháp thí, vô úy thí. Bàn Đạo quá trình liễu nguyện liễu nguyện“, ý nghĩa cũng chỉ là bàn đạo. (Bố thí tiền tài, bố thí pháp, bố thí sức lực, thời gian). Giải thích rõ hơn là thành toàn người tới cầu đạo, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của Thiên Đạo cho mọi người hiểu, tương trợ tam tào nguyên nhơn, phối hợp vận tác đạo vụ.

Trong phật đường làm bất kì sự tình gì đều là vì giúp đỡ nhân loại, giúp đỡ quỷ hồn, thần minh, các linh hồn tu luyện trong giới hữu hình, vô hình. Làm tất cả sự việc là công cộng sự vật, là sự việc thần thánh, vì vậy các hiền sĩ tới Phật đường giúp các sự việc, cũng là gián tiếp giúp ích đến người khác. Ví dụ như tới phật đường giúp quét dọn, hoặc là giúp nấu cơm, tuy đây là việc nhỏ, nhưng cũng là hành vi giúp ích rất nhiều chúng sanh, vì Phật đường cần phải giữ gìn sạch sẽ thanh tịnh, có như vậy mọi người mới trở lại, mới có thể nhìn thấy được sự trang nghiêm của phật đường, vì vậy công việc quét dọn phật đường cũng vô cùng quan trọng. Giống như bây giờ mọi người ở đây nghe lớp, cũng cần người ở dưới bếp nấu cơm, rửa rau, mới có thể chuẩn bị bữa ăn thịnh soạn. Bữa trưa, bữa tối, điểm tâm cho các hiền sĩ sử dụng, các hiền sĩ có thể an tâm nghe lớp, hiểu được lợi ích của việc ăn chay.

Các hiền sĩ sau khi cầu được đạo hoặc sau khi cùng tham gia tam tào phổ độ, cảm thấy đạo lí tam tào vô cùng thù thắng, chia sẻ lợi ích của cầu Đạo cho người khác, vì vậy cũng muốn dẫn dắt mọi người tới cầu Đạo. Nếu như người thân đã cầu Đạo rồi, cũng phải khích lệ họ thanh khẩu, họ nếu như đã thanh khẩu rồi, thì hãy đem những đạo lý mà mình đã hiểu giải thích cho họ, nếu như cảm thấy bản thân chưa hiểu đạo lí, hiểu không được nhiều hoặc giải thích chưa đủ rõ, thì hãy mời bạn bè, người thân trở về Phật đường, mời các vị tiền hiền ở phật giải thích đạo học cho họ nghe.

” Tương trợ tam tào nguyên nhơn” là công việc hết sức quan trọng trong tam tào phổ độ. Có thể dùng phương thức hồi hướng để giúp đỡ nguyên nhơn trong tam tào ( tam tào: thiên tào, địa tào, nhân tào), hoặc tự bản thân tuyên truyền đạo nghĩa, hoặc tới phật đường giúp chỉnh lí tài liệu, văn tự,… đây đều là cùng Ơn Trên phát chuyển tam tào nguyên nhơn tới giúp đỡ đạo vụ, các nguyên nhơn trong tam tào nếu như có thể tới phật đường giúp đỡ đạo vụ, tự bản thân có thể tự kiến công lập đức, tích lũy công đức. Các vị hiền sĩ bình thường ở các chùa miếu, giáo đường các tôn giáo lễ bái thần minh đều là đại lí thần minh tầng khí thiên, họ là linh thể vô hình, còn chưa cầu đạo, cần phải nhờ tương trợ đạo vụ Bạch Dương Kì mới có thể đủ công đức cầu Đạo

Khí thiên thần đại lý, là linh thể vô hình, nhưng lúc họ còn làm người là người vô cùng tốt, cho dù là trên phương diện công phu tu đạo hay xử thế đều rất thành công, thậm chí còn là tướng quân trên chiến trường, vì xả thân cứu đất nước mà hy sinh, cũng có thể thành khí thiên thần. Cũng có thể nói lúc tại thế là người tận đại hiếu, đại trung, đại nhân, đại nghĩa mới có thể sau khi chết làm khí thiên thần. Các chùa miếu, giáo đường là nơi để thiện nam tín nữ nhân gian kính ngưỡng, lễ bái, nhang khói. Khí thiên thần còn chưa được cầu đại đạo, chưa nhận được Minh Sư Nhất Chỉ Điểm. Huyền Khiếu tiên thiên chưa được mở ra, vì thế tuy tại thế tu rất tốt nhưng chưa đủ tư cách trở về thiên đường.

Phật ta tại thế tuy là từ Phật giáo tu hành, nhưng được Ơn Trên từ bi mới cho ta được nhất chỉ huyền quan, sau khi chết mới có thể trở về Vô cực lý thiên. Các hiền sĩ nếu như đã cầu đại đạo rồi, đã mở ra một huyền quan khiếu, là mộ sự việc vô cùng thù thắng, con người không thể xem thường. Có rất nhiều khí thiên thần chưa được cầu Đạo. Vì sự khai xá của Minh Minh Thượng Đế, cho đến chư thiên Tiên Phật bảo đảm, gánh vác thì các hiền sĩ mới có cơ duyên tốt như vậy.

Minh Minh Thượng Đế khai xá, trong tam tào phổ độ phải lấy duyên phận của người tiếp dẫn với các loại duyên phận giới vô hình. Vì vậy cầu đạo, tu đạo, bàn đạo rất quan trọng, con người sau khi minh lý Ơn Trên mới có thể an bài để nguyên nhơn vô hình hiển hóa, cầu đạo, hoặc có cơ hội trợ đạo.

Bạn đang xem bài viết Sự Thù Thắng Của Pháp Hội @ Bạch Dương Kì Blog :: 隨意窩 Xuite日誌 trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!