Chòm Sao Cassiopeia

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Chòm Sao Cassiopeia xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 22/01/2021 trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Chòm Sao Cassiopeia để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 8.910 lượt xem.

Có 5 tin bài trong chủ đề【Chòm Sao Cassiopeia】

【#1】Số Ngôi Sao Sáng Trong Chòm Bắc Đẩu. Có Bao Nhiêu Ngôi Sao Trong Chòm Sao Ursa Major

Nổi bật nhất và nổi tiếng cho tất cả, không có ngoại lệ, các chòm sao, tất nhiên, chòm Bắc Đẩu. Thay vào đó, nhìn thấy rõ ràng trên bầu trời đêm không phải là cô, và một phần của mình – Big Dipper. Nếu nhìn tốt chặt chẽ, phía dưới và bên phải của nó một vài ngôi sao có thể được nhìn thấy, các thành phần chân và Dipper đầu. Mẫu trong chòm sao này thực sự là rất thú vị. Sau khi tất cả, không ai đã từng nhìn thấy một con gấu với đuôi dài như vậy.

Các phần dễ thấy nhất của chòm sao

Số ngôi sao sáng trong chòm sao Đại Hùng được biết là tất cả. chỉ có bảy của họ. Tên của xếp hạng sao này được nhà thiên văn học Ả Rập trong thời Trung Cổ. Để tai của chúng tôi “tên” của họ âm thanh thực sự lạ lùng:

Trên mặt đất, những ngôi sao này dường như cách đều. Trong thực tế, xa nó. Số ngôi sao sáng trong chòm Bắc Đẩu – bảy và tất cả chúng đều từ trái đất và mặt trời không phải là ở những khoảng cách bằng nhau.

Gần nhất với hành tinh của chúng ta là Benetnash. Trước khi các ngôi sao xa nhất – Alioto – sáu mươi năm ánh sáng. Tuy nhiên, có vẻ sáng sủa hơn Benetnash. Đây là đối tượng tươi sáng và lấp lánh Bắc Đẩu. Cường độ ánh sáng nhìn thấy được phát ra bởi tất cả các ngôi sao của chòm Bắc Đẩu mà gần gũi với các ngôi sao của tầm quan trọng thứ hai.

SỰ tHẬT tHÚ VỊ

Nếu bạn thực sự nhìn kỹ vào một trong những ngôi sao của chòm Bắc Đẩu – Mizar, nó có thể được nhìn thấy ngay bên cạnh nhấp nháy mờ nhạt của cô. Lý do rất đơn giản. Mizar – không phải là một ngôi sao bình thường và một đôi.

Các cơ sở, nằm ngay bên cạnh nó, được gọi là Alcor. Với hai từ tiếng Ả Rập được dịch là “ngựa” và “Kỵ sĩ”. Alcor và Mizar – một trong những dễ thấy nhất từ các ngôi sao nhị phân Trái Đất.

Số ngôi sao sáng trong chòm Bắc Đẩu – bảy. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào nó qua ống nhòm hoặc kính thiên văn, bạn sẽ thấy hai bôi nhọ nhỏ của ánh sáng. Không giống như các ngôi sao, họ trông mờ và mờ. Vì vậy, nhìn vào thiên hà ở xa Trái Đất. Tọa lạc tại Gấu bên trong gọi là Whirlpool và Vòng hoa.

Vòng xoay cảng của Big Dipper

Thực tế rằng trái đất của chúng ta không đứng yên, nó được biết đến với bất kỳ học trò. Như một hệ quả của phong trào của nó, có vẻ như những vì sao trên bầu trời xoay. Nó không là ngoại lệ trong vấn đề này và xô. Vào mùa đông và mùa thu, Big Dipper nằm ở phía bắc của bầu trời đêm, không quá xa chân trời. Vào mùa xuân và mùa hè, các chòm sao đáng chú ý nhất có thể được nhìn thấy gần như ở đỉnh cao. Và trong thời gian này trong năm Big Dipper trông ngược.

la bàn Heavenly

Như vậy, số lượng các ngôi sao sáng trong chòm Bắc Đẩu – chính xác bảy. Hai trong số họ có thể phục vụ như một hướng dẫn cho những ai đang trong quá trình. Thực tế là nó rất dễ dàng để khám phá những ngôi sao nổi tiếng nhất của thế giới – miền Bắc. Làm cho nó dễ dàng. Chúng ta chỉ cần vẽ một đường tưởng tượng về hai ngôi sao bên ngoài của bát Dipper. Hơn nữa bản nên đo xấp xỉ khoảng cách giữa chúng. Sao Bắc Đẩu riêng của mình nằm gần phía trên Bắc cực.

Trong những ngày cũ, khi không có bất kỳ công cụ điều hướng, cụ thể là nó phục vụ như là một bước ngoặt đối với tất cả các thủy thủ và khách du lịch. Vì vậy, nếu bạn đột nhiên thấy mình trong một tình huống khó khăn trong một khu vực không quen thuộc – nhìn vào chòm Bắc Đẩu. Sao Bắc Đẩu, được tìm thấy trên nó, sẽ chỉ cho bạn cách để phía bắc. đối tượng rất sáng nhỏ, và không này trên bầu trời đã xa nhiều hơn một lần cứu thua trong rừng taiga, trên sa mạc hay trên biển. Sao Bắc Đẩu được lãnh đạo bởi những người hàng xóm gần nhất của Big Dipper – Ursa Minor. Diện tích cả hai “động vật” được coi là địa điểm cho việc phân loại của các nhà thiên văn quanh cực.

Có bao nhiêu ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu

Tất nhiên, trong cùng một chòm sao của các ngôi sao là cao hơn nhiều so với ở phần nổi bật nhất – xô. Tại thời điểm này, họ có khoảng 125. Đó là hơn một trăm đối tượng tươi sáng dựa vào đó mặt trời sẽ trông giống như một điểm nhỏ và kín đáo của ánh sáng. Gần nhất một ngôi sao với Trái đất, không may, thậm chí không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Tên cô cũng không có. Theo phân loại thiên văn nó đi như ngôi sao của 7,5m. Ánh sáng từ nó đến Trái Đất là xấp xỉ 8,25 năm. Đây là gần gấp đôi trong những ngôi sao gần nhất đối với chúng tôi – Alpha Centauri. Như vậy, câu trả lời cho câu hỏi về bao nhiêu ngôi sao trong chòm sao Đại Hùng, rất đơn giản – nhiều hơn một trăm không phải tất cả trong số họ có thể nhìn thấy mà không một kính thiên văn hoặc ống nhòm. Để xem vào xô một con thú hoang dã với một cái đuôi dài, trên thực tế, bạn cần phải có đủ trí tưởng tượng.

Legend of the Big Dipper

Tất nhiên, trên các đối tượng đáng chú ý như của bầu trời đêm như chòm sao sao Ursa Major, chỉ đơn giản là không thể có nhiều loại khác nhau của những huyền thoại và truyền thuyết. Truyền thuyết nổi tiếng nhất của nó được phát minh bởi người Hy Lạp. Nhà biên niên nói về đất nước cổ kính này đã từng là vua của Arcadia là con gái xinh đẹp khác thường Callisto. Và như vậy các cô gái nâng lên lời kêu gọi của ông rằng dám cạnh tranh với các anh hùng, vợ của Zeus. Một nữ thần tức giận, sử dụng sức mạnh huyền bí của mình, tất nhiên, trả thù người phụ nữ kiêu ngạo, biến cô thành một con gấu. Returns lần này với săn bắn con trai Arcas Callisto thấy ở cửa của con thú hoang dã của cung điện, ông quyết định giết hắn. Tuy nhiên, vào giây phút cuối cùng anh dừng lại mình thờ ơ với Zeus sắc đẹp. Sau khi giải cứu Callisto được nâng lên bầu trời. Các ngôi sao của chòm Bắc Đẩu – đây là nó. Cùng lúc đó vị thần tối cao của bầu trời và lớn lên con chó yêu quý của mình Belle. Ngày nay nó được biết đến như Little Dipper.

chòm sao gần

Ngôi sao trong chòm sao Ursa Major, hay đúng hơn là trong xô của nó – dễ thấy nhất trên bầu trời đêm. Tuy nhiên, bên cạnh những chòm Đại Hùng, tại khu vực đó và một vài chòm sao nổi tiếng. Một điểm tham chiếu cho việc tìm kiếm một trong số họ có thể giống như Sao Bắc Đẩu. Đằng sau cô, ở phía đối diện của Gấu Lớn, xấp xỉ cùng một khoảng cách, màu sắc quen thuộc với nhiều tên là Cassiopeia. Bề ngoài, chòm sao này trông giống như một lá thư của Nga “M”. Ở một số địa điểm Trái Đất Cassiopeia “flips” và trở thành W. Latinh

Giữa nó và Little Dipper có thể được nhìn thấy không phải như vậy đáng chú ý, nhưng cũng không biết Cepheus chòm sao. Rõ ràng hình thức có thể nhìn thấy, nó không quan trọng. Giữa Big và Little Dipper là dễ dàng nhận thấy như con rồng quằn quại. Chuỗi các ngôi sao của nó có thể dễ dàng nối với nhau bằng một đường gãy trên bản đồ.

Vâng, hy vọng, chúng tôi đã trả lời cho câu hỏi chính của bài viết là cơ sở cố định như sáng có trong chòm Bắc Đẩu. Các muôi chỉ bảy. Các chòm sao cơ bản bao gồm khoảng 125 xa “mặt trời”.


【#2】Tìm Phương Hướng Bằng Các Chòm Sao

Người Trung Quốc có câu “Biết được Bắc Đẩu, đi khắp thế gian”. Chòm sao Bắc Đẩu(1) ngày nay theo phân chia 88 chòm sao trên bầu trời của Hiệp Hội Thiên Văn Quốc Tế(2) thì nó là một phần của chòm sao Gấu Lớn (Ursa Major), đó là 7 ngôi sao có hình dạng chiếc gàu xuất hiện ở phía bắc khi hoàng hôn xuống trong những đêm mùa xuân và hè.

Thiên văn phương đông trong đó có Việt Nam gọi nó là Bắc Đẩu Thất Tinh, nó còn xuất hiện trong rất nhiều nền văn hóa, với người Mỹ nó có tên gọi “Cái Muỗng Lớn” (Big Dipper) vì hình dạng rất đặc biệt trên bầu trời.

Điểm đặc biệt của chòm Bắc Đẩu ngoài hình dạng ra chính là ở công dụng xác định phương hướng, nó giúp chúng ta xác định chính xác hướng bắc trong trường hợp khó quan sát được sao Bắc Cực (Polaris) – sao nằm tại cực bắc trong chòm Gấu Nhỏ (Ursa Minor) vốn không phải là một ngôi sao sáng lắm

Thẳng theo cạnh gàu nối liền 2 sao β và α của chòm Gấu Lớn là chỉ thẳng hướng bắc và gấp khoảng 5 lần đoạn đó sẽ giúp chúng ta tìm đến sao Bắc Cực.

Ngoài xác định phương hướng chòm Gấu Lớn còn là một chòm sao “chìa khóa” quan trọng giúp cho những người mới quan sát bầu trời định vị được các chòm sao khác quanh nó.

Sao bắc đẩu (Polaris)

Polaris là sao sáng nhất trong chòm sao Tiểu Hùng, tên La Tinh: Alpha Ursae Minoris, có kí hiệu là α UMi. Hiện nay Polaris là sao Bắc Cực, vì vị trí rất gần thiên cực bắc của nó trên thiên cầu. Do hiện tượng tuế sai, trong đó trục quay của Trái Đất có chuyển động quay với chu kỳ 25800 năm, gây ra thay đổi vị trí thiên cực của thiên cầu theo một vòng tròn bán kính khoảng 23,5°, với tâm nằm giữa chòm sao Thiên Long.

Sao Polaris có thể tìm thấy trên hướng nối từ sao Merak (β UMa) tới sao Dubhe (α UMa) trong chòm sao Đại Hùng), là hai ngôi sao ở phần cuối của cái gàu (tưởng tượng) của chòm sao này. Polaris cũng có thể tìm thấy trên hướng trung tâm của chòm sao Tiên Hậu, có hình ảnh chữ W méo.

1. Đến chòm Sư Tử(Leo):

Cạnh gàu từ sao δ đến γ sẽ dẫn ta đến sao Regulus là sao sáng nhất trong chòm Sư Tử còn được gọi là trái tim của mãnh sư.

2. Đến chòm Mục Phu(Bootes):

Nương theo cán gàu vẽ một đường cong ra ngoài, lấy tâm là sao Denebola là sao sáng ở đuôi của chòm Sư Tử ta sẽ nhìn thấy ngôi sao Arcturus có màu vàng cam trong chòm Bootes. Arcturus rất dễ nhận biết vì nó là sao sáng thứ 3 trên bầu trời đêm.

3. Đến chòm Song Tử(Gemini):

Nối 2 ngôi sao δ và sao β, ta lại kẻ một vạch dài ra phía trước, đường ấy sẽ dẫn tới sao Castor trong chòm Song Tử. Sẽ không khó để nhận biết chòm Song Tử với hai anh em sao sáng Pollux và Castor cạnh nhau ở phần đầu của chòm.

4. Đến chòm Tiên Hậu(Cassiopeia):

Từ ngôi sao ε của chòm Gấu Lớn, ta nối thẳng vào sao Bắc Cực và kẻ một đường nối đi suốt luôn sang hướng bên kia thì găp sao γ của chòm Tiên Hậu. Chòm Tiên Hậu có dạng chữ M ở phía đối diện với chòm Gấu Lớn qua sao Bắc Cực nên khi chòm Gấu Lớn bắt đầu lặn mất thì chòm Tiên Hậu mới hiện lên ở hướng đông và ngược lại.

5. Đến chòm Ngự Phu(Auriga):

Ở cuối cán gàu có 2 ngôi sao là η và ζ. Ta lại nối 2 sao đó và vạch một đường kẻ dài ngang phía trên miệng gàu. Nó sẽ dẫn đến ngôi sao Capella trong chòm Ngự Phu.

Chòm sao Thợ Săn là chòm sao của mùa đông, hẳn bất kì ai trong số chúng ta cũng ấn tượng với hình dáng như chiếc nơ của nó với 3 sao thẳng hàng nằm ở thắt lưng của chàng tráng sĩ.

Hình tượng của chòm Orion là chàng thợ săn dũng mãnh

Ở Việt Nam trong dân gian còn có tên gọi là Sao Cày cho phần giữa của chòm vì nó giống như hình của chiếc lưỡi cày.Trong trường ca Odyssey của Homer, chòm sao Orion là một trong những chiếc la bàn tự nhiên mà chàng Odysseus đã sử dụng trong chuyến hải trình dài dằng dặc của mình tìm đường về với quê hương.

Phía dưới 3 sao thắt lưng thẳng hàng của chòm cũng là 3 đốm sáng nhỏ thẳng hàng tạo thành thanh kiếm của chàng Orion, vùng giữa chính là cụm tinh vân Orion nổi tiếng: M42, M43…

Thẳng theo hướng của thanh kiếm là gần như chính xác hướng Nam, quả là một chiếc la bàn tự nhiên tuyệt diệu.

Từ chòm Orion chúng ta có thể tìm ra rất nhiều chòm sao khác xuất hiện vào mùa đông và đều là những chòm sao sáng của bầu trời.

1- Sao Sirius và chòm Canis Major (Đại Khuyển)

Hãy kéo dài 3 sao thẳng hàng ở thắt lưng của Orion bạn sẽ gặp một ngôi sao sang xanh rực rỡ đó chính là sao Sirus trong chòm Đại Khuyển. Sirius còn gọi là sao Thiên Lang, ngoại trừ các hành tinh nó là ngôi sao sáng nhất của bầu trời đêm. Sirius cách chúng ta 8.6 năm ánh sáng.

2- Sao Procyon – Chòm Canis Minor (Tiểu Khuyển) và Tam Giác Mùa Đông

Procyon là ngôi sao sáng thứ 8 trên bầu trời cùng với Sirus và Betelgeuse (chòm Orion) tạo thành một tam giác đều với 3 đỉnh rực sáng.

3-Sao Aldebaran và chòm Taurus (Kim Ngưu) – Cụm sao Tua Rua

Aldabaran, ngôi sao có màu đỏ cam là một nhánh của chữ V- sừng bò của chòm Taurus. Nó là ngôi sao sáng thứ 13 trên bầu trời. Hãy kẻ đường thẳng từ 3 sao thắt lưu của Orion nhưng ngược hướng với Sirus để tìm ra Aldebaran.

Gần chòm Taurus có một cụm sao mờ rất nổi tiếng đó là Pleiades hay ở Việt Nam còn gọi là Tua Rua. Cụm sao này còn gọi là sao Mạ vì xuất hiện lúc sáng sớm vào đầu tháng 6 thời điểm gieo mạ.

4- Chòm Gemini (Song Tử)

Sẽ không khó xác định chòm Gemini vào lúc này( tháng 2/2008) vì đang có Sao Hỏa sáng đỏ ở trong chòm. Nhưng vào những lúc khác bạn có thể dùng sao Betelguese và thắt lưng của Orion để xác định sao hai sao Pollux và Castor trong chòm Gemini.

5- Chòm sao Auriga (Ngự Phu)

Ở trên đầu của chòm sao Orion, xuôi theo thanh kiếm về hướng bắc các bạn sẽ bắt gặp một chòm sao có hình ngũ giác đó là chòm Auriga(Ngự Phu) trong đó có sao Capella là sao sáng thứ 6 của bầu trời.

6- Lục Giác Mùa Đông

Các sao sáng của những chòm sao trên hợp thành các đỉnh của 1 lục giác gọi là Lục Giác Mùa Đông.

Đỉnh lục giác là các sao:

-Sirius: sao sáng nhất bầu trời (chòm Canis Major – Đại Khuyển)

-Rigel: sáng thứ 7 (Chòm Orion- Thợ săn)

-Aldebaran: sáng thứ 13 (Chòm Taurus – Kim Ngưu)

-Capella : sáng tứ 6 (chòm Auriga – Ngự Phu)

-Pollux và Castor: sáng thứ 16 và 45 (chòm Gemini – Song Tử)

-Procyon: sáng thứ 8 (chòm Canis Minor – Tiểu Khuyển)

Theo dòng chảy của sông Ngân chúng ta sẽ bắt gặp tam giác mùa hè với 3 sao sáng: Vega (chòm Lyra – Thiên Cầm) , Deneb (chòm Cygnus – Thiên Nga) và Altair (chòm Aquila – Đại Bàng) với sao Altair là đỉnh nhọn hướng về phía Nam.

Mỗi năm vào tháng 7 với những cơn mưa không dứt, khiến chúng ta nhớ lại câu chuyện buồn của Ngưu Lang – Chức Nữ. Dòng sông Ngân ngăn đôi hai bờ, Ngư Lang ( sao Altair) ở bờ Tây còn nàng Chức Nữ phía bờ Đông xa hơn về phương bắc. Sao Ngưu Lang rất dễ nhận biết vì cạnh nó nằm giữa và gần như thẳng hàng với hai sao nhỏ.

Chòm sao Nam Thập gắn liền với hình ảnh của những vùng đất cực nam, hình ảnh nó xuất hiện trên lá cờ các nước của Châu Đại Dương.

Trên hải trình xuôi về phương nam khám phá ra các vùng đất mới, khi qua khỏi đường xích đạo và càng dần về phương nam thì các chòm sao dùng để định hướng như Bắc Đẩu và sao Bắc Cực không còn quan sát được nữa. Lúc này chòm Nam Thập chính là chiếc la bàn tin cậy cho các nhà thám hiểm.

Khác với bắc cực, nam cực không có sao để làm mốc.Thật ra là có, đó là sao Sigma(σ) của chòm Octans (Kính bát phân), chòm sao được đặt theo tên của một dụng cụ đo góc trong thiên văn và hàng hải. Thế nhưng, với độ sáng biểu kiến là + 5.5 gần như sao Sigma Octantis cực kì khó nhận biết bằng mắt thường. May mắn thay, chòm Nam Thập cũng hữu dụng như chòm Bắc Đẩu để xác định phương hướng. Kéo dài cây thánh giá sẽ cho ta gần như chính xác hướng nam.

Ảnh: Sử dụng chòm Nam Tào để xác định hướng Nam

(1) Không hiểu tại sao từ lâu có rất nhiều người dùng tên gọi Bắc Đẩu cho sao Bắc Cực(Polaris), thậm chí là trong cả sách giáo khoa. Trong chương trình “Đường Lên Đỉnh Olympia” gần đây cũng có đáp án gọi Bắc Đẩu cho sao Bắc Cực. Đây là sự nhầm lẫn trong tên gọi.

Về tên gọi Bắc Đẩu: “Đẩu” ( 斗 4nét ) có nghĩa là cái đấu, cái chén, cái vại… Bắc Đẩu ( 北斗) thực chất không phải một ngôi sao mà là một mảng sao gồm 7 sao, chúng có vị trí sắp xếp trông tựa cái xoong, cái gàu múc nước….(tức”đẩu”). Chòm bắc đẩu theo thiên văn hiện đại là 7 sao chính của chòm Gấu Lớn. Ngoài Bắc Đẩu Thất Tinh còn có tên gọi Nam Đẩu Lục Tinh là 6 sao có hình cái gàu tương tự trong chòm Cung Thủ (Sagittarius).

(2) Hiệp Hội Thiên Văn Quốc Tế – International Astronomical Uni-on (IAU) đã chia bầu trời thành 88 chòm sao. Các tên gọi như Bắc Đẩu, Big Dipper với phần sao của chòm Gấu Lớn, hay Thần Nông đối với chòm sao Bọ Cạp chỉ là tên gọi tương ứng trong các nền văn hóa với một phần của các chòm sao theo ranh giới hiện nay. Ở tiếng Anh người ta gọi các tên dạng này là “asterism”- các chòm sao không chính thức, để phân biệt với “constellation”- các chòm sao chính thức.


【#3】Thần Thoại Về Anh Hùng Perseus Và Chòm Sao Anh Tiên

Trong thần thoại Hy Lạp, Perseus là người được vua Polydectes phái đến để tiêu diệt và lấy đầu của Medusa the Gorgon – một con quỷ có khả năng biến bất cứ ai hoá đá khi nhìn vào mặt nó.

Polydectes là vua của đảo Seriphos, cùng với người em Dictys là con của Poseidon và Cerebia. Polydectes đã đem lòng yêu Danaë, mẹ của Perseus, khi hai mẹ con được cứu bởi Dictys. Perseus đã đủ trưởng thành và rất bảo vệ người mẹ của mình, quyết không cho vua Polydectes đến gần. Do đó, nhà vua đã lập mưu để đẩy Perseus đi khỏi vương quốc của mình. Nhà vua đã giả vờ là chuẩn bị kết hôn với Hippodamia, nữ hoàng của vương quốc Pisa, và ra lệnh cho tất cả thần dân của Seriphos phải dâng cho mình những món quà phù hợp. Bạn bè của Perseus đã dâng những chú ngựa, nhưng Perseus lại không mang theo, nên Polydectes đã tuyên bố rằng ông muốn có cái đầu của Gorgon Medusa, vì trước đó Perseus từng nói rằng mình phải chịu một nhiệm vụ rất khắc nghiệt là lấy đầu của một con quỷ Gorgon. Perseus đồng ý và Polydectes nói rằng anh không thể quay lại hòn đảo nếu không có cái đầu của Medusa.

Hình 1. Bức tượng Perseus đang nắm giữ cái đầu của Medusa được trưng bày tại Florence (Ý), tác phẩm của Benvenuto Cellini (1554). Ảnh: Hien PHAN.

Medusa là một trong ba chị em quỷ Gorgon, là người xinh đẹp nhất, và là người duy nhất không bất tử. Cô là nguyên nhân chọc giận nữ thần Athena vì bản thân đã làm tình với – hoặc bị hiếp bởi – Poiseidon ngay trong đền thờ của Athena. Athena là một nữ thần của trí tuệ, thủ công mỹ nghệ, và cũng là nữ thần chiến tranh. Athena đã trừng phạt Medusa bằng cách biến mái tóc của cô thành những con rắn.

Perseus đã tiêu diệt Medusa, được cho là đã dùng cái khiên của mình làm gương soi để tránh cái nhìn trực tiếp của Medusa. Medusa bị giết, và Pegasus và Chrysaor xuất hiện từ cơ thể của con quỷ này. Pegasus là một con ngựa có cánh, còn Chrysaor là một chàng trai trẻ, cả hai đều là con của Gorgon Medusa và Poseidon và chỉ được sinh ra khi Perseus chặt đầu Medusa.

Perseus sau đó tiếp tục hành trình đến vương quốc của vua Cepheus, người có con gái là công chúa Andromeda đang được chuẩn bị hiến tế cho quái vật biển Cetus. Perseus đã cứu Andromeda khỏi con quái vật bằng cách tiêu diệt nó bằng thanh kiếm kim cương của mình.

Hình 2. Chòm sao Anh Tiên trên bầu trời với hình ảnh anh hùng Perseus đang giữ cái đầu của Medusa. Ảnh: StarryNight.

Khi Perseus mang cái đầu của Medusa quay trở về đảo Seriphos, anh nhận ra trong thời gian đi vắng, mẹ của Perseus là Danaë đã bị đe doạ và quấy rối (hoặc thậm chí có thể là đã bị hiếp) bởi vua Polydectes, và phải tìm nơi ẩn náu trong một ngôi đền.

Perseus cảm thấy bị xúc phạm và sải bước vào phòng ngai vương nơi mà Polydectes và các quý tộc khác đang hội họp. Vua Polydectes đã rất ngạc nhiên vì Perseus vẫn còn sống, và không tin rằng Perseus đã hoàn thành nhiệm vụ mà ông đã giao ban đầu. Perseus đã khẳng định mình chính là người giết Gorgon Medusa và lấy bằng chứng là cái đầu của Medusa ra. Khi vua Polydectes và các quý tộc của ông nhìn vào khuôn mặt của Medusa, tất cả họ bị biến thành đá. Perseus sau đó đã trao lại vương quốc Seriphos cho em trai của Polydectes là Dictys, vị vua của người đánh cá (ngư dân).

Perseus sau đó cưới công chúa Andromeda và có sáu người con. Trên bầu trời, chòm sao Perseus (Anh Tiên) nằm gần các chòm sao Andromeda (Tiên Nữ), Cepheus (Tiên Vương), Cassiopeia (Tiên Hậu, mẹ của Andromeda), Cetus (Kình Ngư), và Pegasus (Phi Mã).

Cựu thành viên CLB Thiên văn học Đà Nẵng – DAC; nghiên cứu viên tại khoa Vũ trụ và Ứng dụng, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH (Đại học Việt Pháp).


【#4】Giới Thiệu Chòm Sao Kình Ngư

Chòm sao Kình Ngư được định vị ở Bắc thiên cầu. Nó còn được biết đến là Cá voi.Tên của chòm sao được đặt tên theo Cetus, một con quái vật biển trong thần thoại Hy Lạp gắn với Tiên Nữ- công chúa bị hiến thân cho quái vật biển để trừng phạt cho tính kiêu căng và khoe khoang của người mẹ Cassiopeia.

Chòm sao này được xác định trên vùng trời gắn với nước, và nó được đặt tên bởi nhà thiên văn học Hy Lạp Ptolemy vào thế kỷ thứ II. Chòm sao này có thiên hà xoắn ốc M77 và một số ngôi sao nổi tiếng như Deneb Kaitos, Menkar, Tau Ceti và Mira.

Vị trí của chòm sao Kình Ngư trên bầu trời

Kình Ngư là chòm sao có kích thước lớn thứ 4 trên bầu trời, chiếm diện tích 1231 độ vuông. Nó nằm ở góc phần tư thứ nhất của Nam thiên cầu và có thể quan sát được trên các vĩ độ từ 70o đến -90o. Những chòm sao lân cận của nó là: Bảo Bình, Bạch Dương, Ba Giang, Thiên Lô, Song Ngư, Ngọc Phu, Kim Ngưu.

Chòm sao này thuộc gia đình chòm sao Anh Tiên.

Nguồn gốc tên gọi của chòm sao Kình Ngư

Kình Ngư đại diện cho con quái vật biển từ thần thoại Hy Lạp gắn với Tiên Nữ. Do mẹ của Tiên Nữ là Tiên Hậu tính thích khoe khoang con gái mình đẹp tất cả mọi người nên đã chọc giận thần biển Poseidon và thần đã sai Kình Ngư đến. Để có thể xoa dịu sự tức giận của thần biển, Tiên Vương và Tiên Hậu phải hy sinh con gái mình cho Kình Ngư để Kình Ngư không tàn phá vương quốc mình.

Tiên Nữ đã bị xích vào tảng đá để phó mặc cho quái vật biển, nhưng vận may đã đến với cô, người anh hung Anh Tiên đang đi ngang qua khi Kình Ngư đang chuẩn bị ngấu nghiến cô. Anh Tiên đã cứu công chúa khỏi cái chết bởi Kình Ngư và sau đó, anh đã cưới cô.

Kình Ngư thường được miêu tả trong tiếng Hy Lạp là con vật lai với chiếc quai hàm khổng lồ và một thân thể có vảy như một con rắn biển khổng lồ. Mặc dù chòm sao được biết đến như con cá voi, nhưng trong thần thoại lại mô tả nó không giống con cá voi.

Những ngôi sao nổi bật của chòm sao Kình Ngư

Beta Kình Ngư (Deneb Kaitos, Diphda): là ngôi sao sáng nhất của chòm sao. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 2,04 và ở khoảng cách khoảng 96,3 năm ánh sáng. Đó là một ngôi sao cam khổng lồ thuộc kiểu tinh tú K0III. Nó trong giai đoạn chuỗi chính của quá trình tiến hóa và nó sẽ dần trở thành ngôi sao đỏ khổng lồ. Với nhiệt độ bề mặt 4800K, nó là ngôi sao lạnh hơn Mặt Trời. Ngôi sao này còn được biết đến với cái tên truyền thống Deneb Kaitos hay Diphda. Deneb Kaitos trong tiếng Ả Rập ‘Al Dhanab al Ḳaiṭos al Janūbīyy’ có nghĩa là ‘cái đuôi phía nam của Kình Ngư’, còn Diphda từ tiếng Ả Rập ‘aḍ-ḍafdaʿ aṯ-ṯānī’ có nghĩa là ‘con ếch thứ hai’.

Alpha Kình Ngư (Menkar): là ngôi sao đỏ khổng lồ rất già, ở khoảng cách khoảng 249 năm ánh sáng. Ngôi sao này đang dần ném vật chất ra bên ngoài để trở thành một tinh vân hành tinh để thoát khỏi hình dạng ngôi sao lùn trắng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 2,54. Cái tên truyền thống của ngôi sao Menkar từ tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘lỗ mũi’.

Omicron Kình Ngư (Mira): là một ngôi sao nhị phân bao gồm một ngôi sao đỏ khổng lồ và một ngôi sao đồng hành. Hệ thống sao này ở khoảng cách khoảng 420 năm ánh sáng.

Mira A là một ngôi sao đỏ khổng lồ thuộc kiểu tinh tú M7IIIe, nó là một nguyên bản ngôi sao biến quang với khoảng 6000-7000 ngôi sao thuộc nhóm sao này. Tất cả chúng đều là những ngôi sao đỏ khổng lồ với sự biến đổi trong độ sáng chói do bề mặt với chu kỳ thay đổi tử 80-1000 ngày. Mira là một ngôi sao biến thiên già được khám phasvaof năm 1667. Nó có độ tuổi khoảng 6 tỷ tuổi.

Ngôi sao đồng hành cùng nó là Mira B là một ngôi sao lùn trắng có nhiệt độ cao và đang phát triển thành một ngôi sao đỏ khổng lồ. Nó là một cặp gắn với nhau tương tự như Mặt Trời.

Mira biến có chu kỳ sáng nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường với chu kỳ 332 ngày. Sự biến thiên này đầu tiên được chỉ ra bởi nhà thiên văn học người Đức David Fabricius năm 1596 và ông cho rằng nó là một ngôi sao mới cho đến mãi sau này năm 1609, nhà thiên văn học người Pháp Johannes Holwarda phát hiện ra sự biến đổi độ sáng tuần hoàn của ngôi sao.

Cái tên của ngôi sao Mira được đặt bởi nhà thiên văn học Ba Lan Johannes Hevelius có nghĩa Latinh là ‘kỳ diệu’.

Tau Kình Ngư: là một ngôi sao lạnh kiểu G8,5 với độ sáng biểu kiến 3,5 và nó là một trong những ngôi sao gần Hệ Mặt Trời nhất với khoảng cách chỉ là 11,9 năm ánh sáng. Nó có khối lượng bằng 78% Mặt Trời, có thể nhìn được bằng mắt thường. Đó là một ngôi sao thiếu hụt kim loại và có chuyển động thực cao. Sự sáng chói của nó chỉ bằng 55% Mặt Trời.

Những đối tượng sâu thẳm trên bầu trời

M77 (NGC 1068): là một thiên hà xoắn ốc sọc cách khoảng 47 triệu năm ánh sáng và có đường kính khoảng 170000 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 9,6. Nó là một trong những thiên hà lớn nhất trong danh sách Messier.

M77 được khám phá bởi nhà thiên văn học người Pháp Pierre Méchain năm 1780 và sau đó được đưa vào danh sách Messier. Thiên hà này được dễ dàng tìm thấy cách 0,7 độ về phía Đông Nam của Delta Kình Ngư.

Thiên hà này có một hạt nhân hoạt động tích cực nơi mà những đám bụi được nhìn thấy với bức xạ mạnh mẽ. Chính Bernard Yarnton Mills đã phát hiện ra điều này.

NGC 1055: ở cách 0,5 độ Bắc đông bắc của M77. Nó là một thiên hà xoắn ốc ở khoảng cách khoảng 52 triệu năm ánh sáng. Nó được khám phá bởi nhà thiên văn học người Anh William Herschel năm 1783. Tiếp theo M77, NGC 1055 là thành viên lớn nhất trong nhóm thiên hà bao gồm NGC 1073 và một vài thiên hà bất thường nhỏ hơn. Nó có đường kính khoảng 115800 năm ánh sáng. Thiên hà này có một nguồn bức xạ được biết đến.

NGC 1087: là một thiên hà xoắn ốc trung bình, cách khoảng 80 triệu năm ánh sáng. Nó có một thanh chắn trung tâm rất nhỏ và một số đặc tính bất thường trong đĩa với vật chất bao quanh nó. Hạt nhân của thiên hà vô cùng nhỏ. NGC 1087 khá gần NGC 1090, một thiên hà xoắn ốc khác như chúng không thể tương tác với nhau.

NGC 1073: là một thiên hà khác. Nó được cho là có một hạt nhân H II. Nó có độ sáng biểu kiến 11,5.

NGC 45: là một thiên hà soắn ốc sọc, cách khoảng 32,6 triệu năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 10,4 và được khám phá bởi nhà thiên văn học người Anh John Herschel năm 1835.

NGC 17: là một thiên hà xoắn ốc cách khoảng 250 triệu năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 15,3. Nó được cho là hình thành do kết quả của sự hợp nhất hai thiên hà với vùng lõi rất nhiều khí bụi.

NGC 47 (NGC 58): là một thiên hà xoắn ốc sọc, ở khoảng cách khoảng 236 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 13,5. Thiên hà này được khám phá bởi nhà thiên văn học Đức Ernst Wilhelm Leberecht Tempel năm 1886. Nó còn được biết đến là NGC 58. Thiên hà này xuất hiện như một tinh vân xoắn ốc nhỏ với phần lõi sáng.

NGC 1042: là một thiên hà xoắn ốc với độ sáng biểu kiến 14,0, nó được định vị khá gần thiên hà NGC 1035 và được cho là chúng có lien hệ với nhau.

NGC 247 (Caldwell 62): là một thiên hà xoắn ốc trung bình, cách khoảng 11,1 triệu năm ánh sáng. Nó có chịu lực hấp dẫn của thiên hà Nhà điêu khắc (NGC 253).


【#5】Chòm Sao Cetus (Kình Ngư)

Cetus là một con quái vật biển trong thần thoại Hy Lạp về Tiên Nữ Andromeda . Người Hy Lạp cho rằng, công chúa Tiên Nữ đã phải hi sinh bản thân mình cho con quái vật như một hình phạt cho tính khoe khoang của Tiên hậu Cassiopeia – mẫu hậu của nàng. Chòm sao Cetus nằm trong vùng “Thiên Hải”, kế bên một số chòm sao khác đều có mối liên kết với nước như: Eridanus (Ba Giang – sông), Aquarius (Bảo Bình – người mang nước), Pisces (Song Ngư – con cá), vv. Cetus được Ptolemy – nhà thiên văn học người Hy Lạp phát hiện và ghi chép lại vào thế kỷ thứ 2.

Nằm trên thiên cầu Bắc – Chòm sao Cetus – hay còn được gọi là Kình Ngư (mang hình ảnh cá voi), được biết đến như một trong những chòm sao lớn nhất trên bầu trời.

Cetus chứa thiên thể như thiên hà xoắn ốc Messier 77 và một số ngôi sao phổ biến như: Deneb Kaitos (Beta Ceti), Menkar (Alpha Ceti), Tau Ceti và sao biến đổi Mira (Omicron Ceti).

THÔNG TIN, VỊ TRÍ & BẢN ĐỒ

Cetus có diện tích 1231 độ vuông, là chòm sao lớn thứ tư trên bầu trời trong danh sách các chòm sao có diện tích. Nó nằm ở góc phần tư đầu tiên của Nam bán cầu (SQ1) và có thể được nhìn thấy trong khoảng 70 ° vĩ bắc và 90 ° vĩ nam. Cetus nằm kề các chòm Aries (Bạch Dương), Aquarius (Bảo Bình), Eridanus (Ba Giang), Fornax (Thiên Lô), Sculptor (Ngọc Phu) và Taurus (Kim Ngưu).

Cetus thuộc nhóm các chòm sao Perseus cùng với Andromeda (Tiên Nữ), Auriga (Ngự Phu), Cassiopeia (Tiên Hậu), Cepheus (Tiên Vương), Lacerta (Hiết Hổ), Pegasus, Perseus (Anh Tiên), và triangulum (Thiên hà tam giác).

Cetus cấu thành bởi 14 ngôi sao (một vài trong số đó có các hành tinh xoay quanh) và chứa một số vật thể Messier, Messier 77 (M77, NGC 1068). Deneb Kaitos (beta Ceti) là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao này. Cetus còn là đồng minh của các trận mưa sao băng: Mưa sao băng Cetids tháng mười, Eta Cetids và Omicron Cetids.

THẦN THOẠI

Cetus là hiện thân của con quái vật biển từ thần thoại Hy Lạp được sai đi giết Tiên Nữ Andromeda. Tiên Hậu Cassiopeia – mẹ của Andromeda luôn khoe rằng Tiên Nữ là người đẹp nhất thế gian. Điều này đã khiến Poseidon (anh trai của thần Dớt và là thần biển cả) cùng nữ thần biển Nereids rất tức giận.

Poseidon đã phái con quái vật Cetus đến trừng phạt vua và hoàng hậu bằng cách tàn phá bờ biển. Vì nhân nhượng, Tiên Hậu Cassiopeia và Tiên Vương Cepheus đã phải hy sinh nàng Tiên Nữ xinh đẹp cho con quái vật này.

Andromeda đã bị xích vào một tảng đá để chờ con quái vật tới, nhưng may mắn thay, khi Cetus đang chuẩn bị nuốt chửng nàng công chúa, dũng sĩ Perseus vừa đi ngang qua, cứu mạng nàng và giết chết Cetus. Sau đó, Perseus và Andromeda đã kết hôn.

Cetus thường được người Hy Lạp miêu tả như là một sinh vật lai. Nó có cẳng chân, quai hàm rất lớn, và một cơ thể có vảy như một con rắn biển khổng lồ. Mặc dù các chòm sao còn được gọi là cá voi, các sinh vật thần thoại được miêu tả lại trông không giống như một con cá voi trong thực tế.

NHỮNG VÌ SAO TRONG CHÒM SAO CETUS

Deneb Kaitos (Diphda) – β Ceti (beta Ceti)

Beta Ceti là ngôi sao sáng nhất trong chòm Cetus, với độ sáng là 2,04 và cách khoảng 96,3 năm ánh sáng so với Mặt trời.

Beta Ceti là một ngôi sao khổng lồ đỏ cam thuộc loại phổ K0 III. Nó đã trải quai các trình tự chính của sự tiến hóa và đang trên con đường trở thành một gã khổng lồ đỏ. Với nhiệt độ bề mặt của 4.800 K, ngôi sao này hơi lạnh hơn so với mặt trời.

Beta Ceti đôi khi được gọi bằng tên truyền thống của nó, Deneb Kaitos và Diphda. Deneb Kaitos có nguồn gốc từ cụm từ tiếng ả Rập Al Dhanab Al Ḳaiṭos Al Janūbīyy, có nghĩa là “đuôi phía nam của Cetus,” và Diphda đến từ aḍ-ḍafda ʿ aṯ-ṯānī, đó là tiếng ả Rập cho “con ếch thứ hai”. (Sao Fomalhaut trong Piscis Austrinus thường được gọi là ếch đầu tiên.)

Menkar (Menkab) – α Ceti (Alpha Ceti)

Alpha Ceti là một ngôi sao khổng lồ màu đỏ lâu đời, độ sáng 2,54, cách khoảng 249 năm ánh sáng xa xôi. Ngôi sao sẽ tách rời những vỏ bọc bên ngoài của nó để tạo thành một tinh vân hành tinh, để lại một tàn dư lùn trắng lớn.

Alpha Ceti còn được biết đến với tên cổ là Menkar, đến từ tiếng ả Rập có nghĩa là “lỗ mũi”. Alpha Ceti thường được sử dụng trong các tác phẩm của khoa học viễn tưởng, đáng chú ý nhất trong bộ phim khoa học viễn tưởng Star Trek: The Original Series. Alpha Ceti V là hành tinh mà trên đó Khan và đoàn thủy thủ của ông bị lưu đày. Trong Star Trek: các thuỷ thủ trên tàu Enterprise đã xây dựng một hành tinh mới cho nhân loại sau khi Xindi phá hủy trái đất.

Mira-ο Ceti (Omicron Ceti)

Omicron Ceti, hay còn được biết đến với tên Mira, là một ngôi sao nhị phân bao gồm một sao khổng lồ đỏ và một sao đôi cách Hệ Mặt trời của chúng ta 420 năm ánh sáng.

Mira A, một ngôi sao khổng lồ đỏ thuộc loại phổ M7 IIIe, là một sao biến dạng dao động phục vụ như một nguyên mẫu cho toàn bộ một lớp biến, các biến số Mira. Có khoảng từ 6.000 và 7.000 ngôi sao được biết đến thuộc nhóm này. Chúng là tất cả những sao khổng lồ đỏ có bề mặt dao động theo cách như vậy để gây ra các biến đổi về độ sáng trong khoảng thời gian từ 80 đến hơn 1.000 ngày.

Mira là sao biến thiên không siêu tân tinh đầu tiên được phát hiện, với ngoại lệ có thể có của ALGOL trong chòm sao Perseus, được xác nhận là một biến chỉ trong 1667. Mira được cho là khoảng 6 tỷ tuổi.

Một ngôi sao đồng hành, Mira B, là một ngôi sao lùn trắng nhiệt độ cao đang bồi đắp khối lượng từ sao khổng lồ đỏ. Hai ngôi sao này tạo thành một cặp cộng sinh, gần nhất của loại sao đôi với mặt trời.

Mira là ngôi sao biến đổi định kỳ sáng, không thể nhìn thấy bằng mắt thường trong một phần của chu kỳ 332 ngày của nó. Sự biến đổi lần đầu tiên được nhà thiên văn học người Đức David Fabricius ghi chép vào 1596. Fabricius tin rằng đó là một Nova cho đến khi ông thấy ngôi sao một lần nữa vào năm 1609. Nhà thiên văn học người Frisia Johannes Holwarda, xác định chu kỳ biến thể của ngôi sao, thường được ghi nhận để khám phá sự thay đổi của nó.

Nhà thiên văn học người Ba Lan Johannes Hevelius đã đặt tên ngôi sao là Mira, có nghĩa là “tuyệt vời” trong tiếng Latinh.

Ngôi sao này đang tách ra một vệt sáng từ lớp vỏ của nó. Kính viễn vọng không gian của NASA Galaxy Evolution Explorer đã tiết lộ một cái đuôi dài 13 năm ánh sáng dấu sau Mira.

τ Ceti (Tau Ceti)

Tau Ceti có quang phổ G lùn (G 8.5) với cấp sao biểu kiến là 3,5. Đây là một trong những ngôi sao gần nhất với hệ mặt trời của chúng ta, chỉ nằm cách 11,9 năm ánh sáng. Nó có một khối lượng chỉ khoảng 78% của mặt trời và là một trong những ngôi sao rất ít lớn hơn mặt trời mà vẫn có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nó là một ngôi sao thiếu kim loại với một chuyển động thích hợp cao. Độ sáng của nó là tương đương với chỉ 55% của độ chói của mặt trời.

Tau Ceti và Epsilon Eridani trong chòm sao Eridanus là hai ngôi sao gần nhau tương tự như mặt trời mà nhà thiên văn học Cornell Frank Drake chọn cho dự án Ozma, một thí nghiệm SETI tiên phong trong 1960 nhằm khám phá các tín hiệu thông minh từ không gian. Không cần phải nói, không có bất kỳ kết quả đáng kể.

CÁC VẬT THỂ XA XÔI TRONG VÙNG TRỜI CETUS

Thiên Hà có một hạt nhân thiên hà hoạt động (AGN) bị chặn xem bởi bụi cục. Cốt lõi của Thiên Hà là một nguồn radio mạnh. Bernard Yarnton Mills là người đầu tiên khám phá điều này. Ông đã chỉ định vật thể Cetus A.

NGC 1055 chỉ nằm 0,5 độ bắc-đông bắc của Messier 77. Đó là thiên hà xoắn ốc, nhìn thấy Edge-on, cách khoảng 52.000.000 năm ánh sáng xa xôi, được nhà thiên văn học người Anh William Herschel phát hiện vào 1783.

Cạnh Messier 77, NGC 1055 là một thiên hà xoắn ốc lớn nhất trong nhóm Thiên Hà cũng bao gồm NGC 1073 và một số thiên hà nhỏ hơn bất thường. Nó có đường kính khoảng 115.800 năm ánh sáng. Thiên Hà là một nguồn radio đã biết.

NGC 1087 là một thiên hà xoắn ốc trung gian, cách xa khoảng 80.000.000 năm ánh sáng.

Nó có một thanh trung tâm rất nhỏ và một số tính năng không đều trong đĩa vật liệu bao quanh nó. Hạt nhân của Thiên Hà là cực kỳ nhỏ.

NGC 1087 nằm gần NGC 1090, một thiên hà xoắn ốc bị cấm, nhưng cả hai không tương tác.

NGC 1073 là một thiên hà khác ở Cetus. Nó được tin là có một hạt nhân H II. Nó có cấp sao biểu kiến là 11,5.

NGC 45 là một thiên hà xoắn ốc, khoảng 32.600.000 năm ánh sáng ở Cetus. Nó có cấp sao biểu kiến là 10,4. Thiên Hà này được phát hiện bởi John Herschel trong 1835 ở Anh.

NGC 17 là một thiên hà xoắn ốc trong Cetus, cách xa TĐ khoảng 250.000.000 năm ánh sáng. Nó có cấp sao biểu kiến là 15,3.

NGC 47 (NGC 58)

NGC 47 là một thiên hà xoắn ốc, khoảng 236.000.000 năm ánh sáng, cấp sao biểu kiến là 13,5.

Thiên Hà được phát hiện bởi Ernst Wilhelm Leberecht Tempel ở Đức vào 1886. Nó còn được gọi là NGC 58. (Nhà thiên văn học người Mỹ Lewis Swift quan sát đối tượng sau này và không biết rằng nó đã được Tempel phát hiện.)

Thiên hà này xuất hiện như một tinh vân xoắn ốc nhỏ với một lõi sáng.

NGC 1042 là một thiên hà xoắn ốc với cấp sao biểu kiến 14,0.

Nó nằm gần một thiên hà khác, NGC 1035, và cả hai được cho là có liên hệ về thể chất với nhau, vì chúng có các redca tương tự.

NGC 247 (Caldwell 62) là một thiên hà xoắn ốc trung gian ở Cetus, cách Trái Đất khoảng 11.100.000 năm ánh sáng.

Nó chịu lực hấp dẫn bởi Thiên Hà Sculptor (NGC 253) trong chòm sao Sculptor, nằm ở trung tâm của nhóm Thiên Hà Sculptor, một trong những nhóm gần nhất với Milky Way Galaxy – Ngân Hà của chúng ta.

Bridget Nguyen theo Constellation-Guide


Bạn đang xem chủ đề Chòm Sao Cassiopeia trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Chủ đề mới hơn

Chòm Sao Thiên Hậu - Xem 10,989

Chòm Sao Cancer - Xem 10,494

Chòm Sao Aries - Xem 10,593

Chòm Sao Aquarius - Xem 9,504

Chòm Sao Andromeda - Xem 9,504

Chòm Sao Bảo Bình Nam - Xem 12,177

Chòm Sao Bên Anh Anime - Xem 10,494

Chòm Sao Bên Anh Mp3 - Xem 17,226

Chòm Sao Bên Anh Nightcore - Xem 10,791

Chòm Sao Bên Anh Karaoke - Xem 9,504

Chủ đề cũ hơn

Chòm Sao Thứ 13 - Xem 9,999

Chòm Sao Đại Hùng - Xem 16,038

Chòm Sao Song Ngư - Xem 10,593

Chòm Sao Bảo Bình - Xem 10,296

Chòm Sao Cự Giải - Xem 10,098

Chòm Sao Nhân Mã - Xem 17,424

Chòm Sao Bắc Đẩu - Xem 10,197

Chòm Sao Orion - Xem 11,682

Chòm Sao Thiên Bình - Xem 12,177

Chòm Sao Bên Anh - Xem 12,672