Vì Sao Tết Lại Có Tên Gọi Là ‘nguyên Đán?’ Tết Âm Lịch Ở Một Số Quốc Gia Khác Tên Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Top 3 Cung Hoàng Đạo Nữ Giỏi Giang Xinh Đẹp, Toàn Năng Toàn Tài Nhất
  • Cung Xử Nữ Hợp Với Cung Nào Để Tình Duyên Luôn Trọn Vẹn
  • Top Những Mẫu Tóc Đẹp Cho Từng Cung Hoàng Đạo Cho Bạn
  • Tình Yêu Của Nàng Xử Nữ Hợp Với Chàng Cung Hoàng Đạo Nào?
  • Lao Động Bất Hợp Pháp Tại Hàn Quốc (Kỳ 3): Phố Đèn Đỏ Và Kiếp Đỏ Đen Nơi Xứ Người
  • Tết Âm lịch, Tết ta… là những cách gọi khác nhau của Tết Nguyên Đán. Nhưng có bao giờ bạn thắc mắc, vì sao lại lại có tên là ‘Nguyên Đán’?

    Tết Nguyên Đán là dịp lễ cổ truyền của người dân Việt Nam, đây là dịp người ta đi du xuân, thăm hỏi họ hàng, bạn bè để gửi những lời chúc tốt đẹp. Hiếm có ngày lễ nào lại được mong chờ như Tết Nguyên Đán tại Việt Nam.

    Vì sao Tết lại có tên ‘Nguyên Đán’?

    Tính theo lịch âm, Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết của phương Tây khoảng 1 tháng. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà rơi vào giữa những ngày này. Tết Nguyên Đán thường kéo dài từ khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ (năm dương) và 15 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 15 tháng Giêng).

    Tết Nguyên Đán là dịp được người Việt mong chờ nhất trong năm.

    Tết Nguyên Đán là ngày đầu tiên trong năm, tên gọi ấy dùng để phân biệt với một số dịp lễ khác như Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu.

    Trong tiếng Hán, ‘Nguyên’ có nghĩa là sự khởi đầu còn ‘Đán’ là buổi sáng sớm, khi ghép lại được chữ ‘Nguyên Đán’ tức là buổi sáng khởi đầu của một năm mới. Riêng chữ ‘Tết’ được đọc chệch đi theo âm chữ Hán của chữ ‘Tiết’. Theo lịch Trung Quốc xưa, một năm gồm có 24 tiết và ‘Nguyên Đán’ được coi là tiết đầu tiên trong năm.

    Tết Âm lịch ở một số quốc gia khác tên là gì?

    Cũng như người Việt Nam, người Trung Quốc coi Tết Nguyên Đán là một trong những dịp lễ quan trọng nhất. Tết Âm lịch ở Trung Quốc còn được gọi là Xuân Tiết (Lễ hội mùa xuân). Trong những ngày này, người dân Trung Hoa sẽ trang trí nhà cửa, ca hát, tổ chức ăn uống và đi thăm người thân.

    Nhiều thông tin khẳng định Tết Nguyên Đán của Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng thực tế đã chứng minh trước khi thực dân phương Bắc sang đô hộ nước ta thì dân tộc Việt Nam ta đã ăn Tết từ thời Văn Lang với sáng kiến bánh chưng – bánh giày của Lang Liêu – con trai của vua Hùng thứ 6.

    Ngày Tết, khắp phố phường ở Trung Quốc tràn đầy sắc màu, đặc biệt là màu đỏ – tượng trưng cho sự may mắn.

    Ở Triều Tiên, người ta gọi Tết Nguyên Đán là ‘Seollal’. Tết cổ truyền của đất nước này là ngày đầu tiên của năm mới Âm lịch. Người Triều Tiên cũng thường đón mừng năm mới dương lịch vào ngày 1/1 hằng năm. Tuy nhiên, Tết Âm lịch vẫn quan trọng hơn dương lịch.

    Người dân Triều Tiên ngắm pháo hoa đêm giao thừa.

    Cũng đón Tết Âm lịch như Việt Nam, nhưng Tết cổ truyền ở Mông Cổ được gọi là ‘Tsagaan Sar’, nghĩa là ‘Mặt trăng trắng’, được xác định theo lịch mặt trăng của người Mông Cổ. Đây là 1 trong 2 ngày Tết quan trọng nhất và được chờ đợi nhất ở nước này, ngày Tết còn lại là Tết Naadam vào tháng 7. Tết âm lịch của người Mông Cổ có nhiều phong tục tập quán và món ăn riêng biệt, đậm nét văn hóa bản địa của người dân du mục.

    Người dân còn mặc trang phục truyền thống, tặng nhau các món quà và tiền mừng tuổi. Thông thường, các đại gia đình sẽ tụ họp ở nhà của người lớn tuổi nhất trong nhà.

    ‘Losar’ hay năm mới của người Tây Tạng được tính bằng ngày mùng 1 (ngày đầu tiên) của tháng đầu tiên trong lịch Tây Tạng, khi mặt trăng bắt đầu quỹ đạo mới quanh Trái đất. Thường thì Losar trùng khớp với Tết Nguyên Đán của người Việt và người Trung Quốc, tuy nhiên cũng có năm chênh lệch một vài ngày, hoặc có khi chênh lệch cả tháng.

    Losar là một trong những dịp lễ quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng, thường rơi vào tháng Hai hoặc tháng Ba dương lịch hằng năm.

    Tuy không còn đón Tết Âm lịch, nhưng Nhật Bản vẫn có ngày lễ truyền thống có tên ‘Oshougatsu’ có nghĩa là ‘Chính Nguyệt’. Đây là ngày lễ bắt nguồn từ phong tục chào đón vị thần năm mới Toshigamisama, vị thần tượng trưng cho sức khỏe, may mắn và phát đạt.

    Tết Oshougatsu diễn ra từ ngày 1-3/1, vào những ngày này, mọi gia đình đều dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị đồ dùng và trang trí nhà cửa. Người ta quan niệm rằng, xem mặt trời mọc vào ngày này là việc làm tốt nhất để chào đón một năm thịnh vượng, may mắn và tốt đẹp.

    Phong tục đón năm mới của người Nhật hiện vẫn giữ được những truyền thống Á Đông điển hình, bên cạnh đó vẫn thu nhận những nét văn hóa mới từ phương Tây.

    Ở mỗi quốc gia khác nhau đều có những cách chào đón năm mới theo các phong tục truyền thống khác nhau, có bao nhiêu dân tộc là có bấy nhiêu cách mừng riêng biệt. Nhưng dù tổ chức Tết Âm lịch hay Tết Dương lịch thì ý nghĩa của những ngày này đều là đánh dấu sự khép lại của năm cũ và đón nhận sự mở màn một năm hạnh phúc, tốt đẹp, an khang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gửi Chàng Trai Xử Nữ Của Em
  • Sự Kì Diệu Của Tình Yêu (The Magic Of You)
  • Top 4 Cung Hoàng Đạo Ghét Sự Giả Tạo, Dối Trá Nhất Trên Đời
  • Vì Em Là Phụ Nữ
  • Đọc Ngoại Truyện 3: Cục Cưng Chúng Ta Sinh Baby Đi?
  • Tên Con Thiên Bình Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Đúng Hay Không, Những Người Có Cung Mạng Thiên Bình
  • Sàn Vàng Vẫn Công Khai Mời Mọc Nhà Đầu Tư
  • Sàn Vàng Cái Ôm Triệu Đô “biến Mất” Trước Mũi Nhà Đầu Tư Việt Nam.
  • Khám Phá Mặt Trời Song Ngư Và Mặt Trăng Ở 12 Cung (Phần 2)
  • Khám Phá Con Người Bên Trong Và Những Tính Cách Ẩn Sâu Thậm Chí Bạn Cũng Không Hề Nhận Ra Qua Cung Mặt Trăng
  • Cập nhật thông tin chi tiết về Tên Con Thiên Bình Có Ý Nghĩa Là Gì mới nhất ngày 30/11/2020 trên website chúng tôi Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 2,673 lượt xem.

    Luận giải tên Thiên Bình tốt hay xấu ?

    Về thiên cách tên Thiên Bình

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Thiên Bình là Thiên, tổng số nét là 4 và thuộc hành Âm Hỏa. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Phá hoại diệt liệt là quẻ ĐẠI HUNG. Đây là quẻ phân ly tang vong, rơi vào nghịch cảnh, tiến thoái lưỡng nan, bước vào suy thoái, đã hung càng hung, có điềm phát điên, tàn phế. Nhưng cũng thường sinh ra quái kiệt hoặc dị nhân.

    Xét về địa cách tên Thiên Bình

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Thiên Bình là Bình, tổng số nét là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Luận về nhân cách tên Thiên Bình

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Thiên Bình là Thiên Bình do đó có số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Về ngoại cách tên Thiên Bình

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Thiên Bình có ngoại cách là Bình nên tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Luận về tổng cách tên Thiên Bình

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Thiên Bình có tổng số nét là 8 sẽ thuộc vào hành Dương Hỏa. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Quan hệ giữa các cách tên Thiên Bình

    Số lý họ tên Thiên Bình của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Kim” Quẻ này là quẻ Tính cứng rắn, ngang ngạnh, cố chấp, bảo thủ, sức chịu đựng cao, ưa tranh đấu, nếu tu tâm dưỡng tính tốt ắt thành người quang minh lỗi lạc. Cách này không hợp với phái nữ.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm HỏaÂm Kim – Âm Thổ” Quẻ này là quẻ Hỏa Kim Thổ: Thường bị chèn ép trong cuộc sống, gặp nhiều khó khăn và nhiều điều phiền não, cuộc đời có nhiều biến động nhưng cũng có na được sống yên ổn, cơ thể dễ bị lao lực, dễ mắc các bệnh về não, phổi (hung).

    Kết quả đánh giá tên Thiên Bình tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Thiên Bình bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Nguyễn Thiên Bình Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Giải Mã Cung Thiên Bình
  • Mặt Trăng Nhân Mã
  • Cung Thiên Bình Nữ Kết Hợp Với Nhân Mã Nam Ra Sao
  • Cung Ma Kết Hợp Màu Gì: Nên, Kỵ, Công Việc, Tài Vận, Tình Cảm
  • Tên Con Bùi Thiên Bình Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Cửa Hàng Mỹ Phẩm Thiên Bình Biên Hòa
  • Thiên Bình À, Cự Giải Phải Làm Gì Đây?
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Con Đường Tình Yêu Cảu Cung Thiên Bình
  • What Happened To The Money Raised For Scammed Vietnamese Tourist?
  • Công Ty Tnhh Thiên Bình Phát
  • Về thiên cách tên Bùi Thiên Bình

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Bùi Thiên Bình là Bùi, tổng số nét là 8 và thuộc hành Âm Kim. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Xét về địa cách tên Bùi Thiên Bình

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Bùi Thiên Bình là Thiên Bình, tổng số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Luận về nhân cách tên Bùi Thiên Bình

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Bùi Thiên Bình là Bùi Thiên do đó có số nét là 10 thuộc hành Âm Thủy. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Tử diệt hung ác là quẻ ĐẠI HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Về ngoại cách tên Bùi Thiên Bình

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Bùi Thiên Bình có ngoại cách là Bình nên tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Luận về tổng cách tên Bùi Thiên Bình

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Quan hệ giữa các cách tên Bùi Thiên Bình

    Số lý họ tên Bùi Thiên Bình của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Thủy” Quẻ này là quẻ Tính thụ động, ưa tĩnh lặng, đơn độc, nhạy cảm, dễ bị kích động. Người sống thiên về cảm tính, có tham vọng lớn về tiền bạc, công danh.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm KimÂm Thủy – Âm Kim” Quẻ này là quẻ Kim Thủy Kim: Thừa hưởng ân đức của tổ tiên, gặt hái được thành công bất ngờ, nhưng cuộc sống gặp nhiều biến động, loạn ly, bất hạnh và đoản mệnh (nửa hung nửa cát).

    Kết quả đánh giá tên Bùi Thiên Bình tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Bùi Thiên Bình bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Điều Về Một Thiên Bình Có Thể Hóa Giải Thù Hận Bằng Lòng Tốt Của Mình
  • Cung Thiên Bình Nữ Và Sư Tử Nam
  • Cung Thiên Bình Hợp Với Cung Nào Nhất Trong Tình Yêu, Công Việc?
  • Đọc Truyện Fairy Tail ( Đại Gia Đình)
  • Chàng Trai Thiên Bình Khi Yêu: Chân Thành, Ấm Áp, Chu Đáo ⋆ Starsworld
  • Bảo Bình Vốn Được Gọi Là “máu Lạnh”

    --- Bài mới hơn ---

  • Cung Bảo Bình Chọn Đá Màu Gì Hợp Phong Thuỷ
  • Hoàng Thần Tài Và Bảo Bình Thờ Sao Cho Linh Ứng??
  • Những Điều Vô Cùng “đặc Biệt” Trong Tính Cách Của Bảo Bình
  • Jupiter Trong Dấu Hiệu Aquarius: Ý Nghĩa, Ý Nghĩa Và Đặc Điểm Tính Cách
  • Ngày Sinh Của 12 Cung Bảo Bình Sinh Tháng Mấy, Ngày Sinh Của 12 Cung Hoàng Đạo
  • “Nữ chính nói cười, kể chuyện, là tâm điểm của chúng bạn trong một quán cafe. Cách đó hai bàn là một chàng trai, thoạt nhìn thì anh ta không đẹp, nhưng nếu nhìn kĩ thì lại thấy có nét gì đấy cuốn hút. Anh ta chăm chú nhìn vào bàn của mấy cô gái và quan sát thật kĩ càng cô gái nữ chính kia. Anh muốn lấy số điện thoại của cô nhưng lại rụt rè không dám. Cô gái biết anh ta đang nhìn mình. Ngay từ lúc mới vào cô đã chú ý đến cái vẻ không giống ai của anh ta. Và không hiểu sao dù rằng đang nói chuyện bình thường với bạn mình nhưng cô cứ hướng suy nghĩ về bên đó, chờ đợi anh ta đến xin số. Cơ mà rồi cô cũng tự hiểu được tình hình hiện tại và đột nhiên, cô bất thần đứng dậy, đi lại phía bàn anh ta đang ngồi, cười và đưa anh ta một mẩu giấy có ghi số điện thoại của mình, rồi bước ra khỏi quán cafe cùng bạn với khuôn mặt đầy kiêu hãnh, bỏ mặc anh ta ngồi đó với vẻ bất ngờ pha lẫn thích thú.”

    Bảo Bình sau một hồi đấu tranh tư tưởng ghê gớm đã quyết định gọi điện cho Sư Tử. Dù đã bỏ ra cả tiếng đồng hồ soạn đi soạn lại bản thảo cho hoàn cảnh khi gọi điện như thế nào, nói năng ra sao nhưng ôi thôi, đến lúc gọi rồi thì câu chuyện hoàn toàn không như Bảo Bình nghĩ. Nhưng không có nghĩa là nó đi theo chiều hướng xấu. Đúng ra thì câu chuyện lại theo một hướng không thể ngờ đến. Bằng cách nào đó, Sư Tử làm Bảo Bình tò mò hơn, muốn tìm hiểu nhiều hơn. Bảo Bình biết rằng, mình phải hẹn hò kẻ đầy thú vị và cuốn hút kia bằng được.

    Cuộc hẹn thứ nhất, cuộc hẹn thứ hai, cuộc hẹn thứ ba… những cuộc hẹn cứ tiếp diễn. Họ bị cuốn vào nhau như những cơn lốc. Người ta nói Bảo Bình và Sư Tử là trái dấu, cũng vì thế mà họ lại càng hút nhau mãnh liệt hơn.

    Sư Tử biết được rằng con người Bảo Bình khác thường. Trong đầu Bảo Bình có đến ti tỉ hằng hà sa số ý tưởng và chúng đều kì quặc hết biết, nhưng họ ít động lực để thực hiện chúng. Sư Tử chính là người có thể mang lại sức sống cho những ý tưởng ấy, biến chúng trở thành hiện thực và làm chúng thành công. Cùng với đó, c ái chất lập dị bất thường này của Bảo Bình có thể làm kẻ cả thèm chóng chán Sư Tử không bao giờ thấy nhàm. Hai người chẳng cần cố gắng mà cứ như luật bất thành văn: họ bị cuốn vào nhau và đang hoàn thiện lẫn nhau. Họ cùng chung lý tưởng, mục đích nhưng cách tiếp cận với thế giới lại khác hẳn nhau. Và vì thế, khi ở bên nhau, họ sẻ chia cái nhìn từ hai thái cực của vấn đề, tìm được một cách nào đó để giải quyết vấn đề trọn vẹn, hoàn hảo.

    Và mâu thuẫn của những kẻ nổi bật

    Cùng là những kẻ nổi bật, cặp đôi này thật khiến người khác phải sinh lòng ngưỡng mộ. Nhưng phải khẳng định bản chất của sự thu hút này hoàn toàn khác nhau. Bảo Bình với khí chất cá biệt bẩm sinh và tự do thể hiện cá tính lập dị của mình luôn khiến người khác phải ngoái nhìn. Cho dù bản thân họ có cảm thấy mình cô lập, thì vẫn vô tình trở thành thứ lực hút vô hình trong đám đông. Trái lại, Sư Tử vốn là kẻ thích gây chú ý, luôn cố gắng tự làm cho mình nổi bật bằng đủ phương thức. Cái lối kiểu cách, thích chơi trội nhiều khi lộ liễu này có thể khiến Bảo Bình khó chịu. Đương nhiên, kẻ cá biệt từ trong trứng nước, lại nhiều vô tâm lãnh cảm như Bảo Bình không hề dễ thông cảm cho khao khát tỏa sáng cháy bỏng của Sư Tử

    Kết cục chia tay có lẽ là không khó hình dung với hai kẻ đối cung nhiều mâu thuẫn mà lại thừa vị kỉ này. Trái với nhiều cặp đối đỉnh khác, Sư Tử và Bảo Bình chia tay không dùng dằng hợp – tan nhiều, cho dù vẫn khó dứt được cảm giác bị thu hút như bản chất của những cặp đôi đối đỉnh. Bảo Bình vốn được gọi là “máu lạnh”, tuyệt đối không phải kẻ sâu đậm lụy tình, hơn nữa dù còn tình cảm thì lí trí vẫn thừa sức kiểm soát. Sư Tử mới thường là đối tượng phải chịu tổn thương nhiều hơn, tình cảm nồng ấm lẫn lòng tự tôn cao vút đều bị tổn hại nghiêm trọng.

    Cặp đôi này một khi đã cất tiếng chia tay thì thật khó có đường nối lại, vấn đề chỉ là thành bạn hay thành thù. Mấu chốt ở chỗ họ đã làm tổn thương và xâm phạm giới hạn của nhau đến mức nào. Bảo Bình – như đã nói, không chấp nhặt chuyện tình cảm. Nhưng nếu thấy chướng tai gai mắt thì Bảo Bình cũng chẳng ngại ghét bỏ kì thị, dù từng là tình cũ chăng nữa. Sư Tử thật ra cũng không phải kẻ quá trẻ con hay vô tình, nhưng lòng tự tôn của họ nếu không được tôn trọng đúng mức thì sinh ra hận thù cũng không phải là điều khó hiểu.

    Sư Tử và Bảo Bình mâu thuẫn chồng chất, mâu thuẫn từ những thứ đôi khi rất nhỏ nhặt, nhưng may mắn rằng họ đều là những kẻ không hay để bụng. Miễn là họ thấy cần nhau, sẵn sàng vì người mình yêu mà giảm bớt tính cách độc tôn thâm căn cố đế của mình thì khi đó, không quá khó để thiết lập một mối quan hệ lâu dài. Tưởng tượng cặp đôi Sư Tử – Bảo Bình yêu nhau bền lâu sẽ thú vị nhiều trò hay thế nào, khi một kẻ hung hãn nhiệt tình giúp hiện thực hóa những ý tưởng có một không hai của kẻ kia!

    Theo dõi để nhận thông báo khi có bài viết mới của tác giả này

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Là Tiểu Tiên Nữ Của Anh
  • Thờ Hoàng Thần Tài (Hoàng Tài Bảo Dzambala) Trong Phật Giáo Kim Cang Thừa
  • Bảo Bình Tuyệt Tình Hay Vương Vấn Tình Cũ?
  • Nỗi Buồn Của Bảo Bình
  • Tiết Lộ Cách Đàn Ông Cự Giải Xa Vào Lưới Tình
  • Tên Con Vũ Thiên Bình Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 28 Tháng 9
  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 26 Tháng 9
  • Thiên Bình Sinh Ngày 25 Tháng 9
  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 23 Tháng 9
  • Thiên Bình Sinh Ngày 23 Tháng 9
  • Cập nhật thông tin chi tiết về Tên Con Vũ Thiên Bình Có Ý Nghĩa Là Gì mới nhất ngày 30/11/2020 trên website chúng tôi Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 1,881 lượt xem.

    Luận giải tên Vũ Thiên Bình tốt hay xấu ?

    Về thiên cách tên Vũ Thiên Bình

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Vũ Thiên Bình là , tổng số nét là 6 và thuộc hành Âm Thổ. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Xét về địa cách tên Vũ Thiên Bình

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Vũ Thiên Bình là Thiên Bình, tổng số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Luận về nhân cách tên Vũ Thiên Bình

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Vũ Thiên Bình là Vũ Thiên do đó có số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Về ngoại cách tên Vũ Thiên Bình

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Vũ Thiên Bình có ngoại cách là Bình nên tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Luận về tổng cách tên Vũ Thiên Bình

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Vũ Thiên Bình có tổng số nét là 13 sẽ thuộc vào hành Dương Hỏa. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Kỳ tài nghệ tinh là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ sung mãn quỷ tài, thành công nhờ trí tuệ và kỹ nghệ, tự cho là thông minh, dễ rước bất hạnh, thuộc kỳ mưu kỳ lược. Quẻ này sinh quái kiệt.

    Quan hệ giữa các cách tên Vũ Thiên Bình

    Số lý họ tên Vũ Thiên Bình của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Kim” Quẻ này là quẻ Tính cứng rắn, ngang ngạnh, cố chấp, bảo thủ, sức chịu đựng cao, ưa tranh đấu, nếu tu tâm dưỡng tính tốt ắt thành người quang minh lỗi lạc. Cách này không hợp với phái nữ.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm ThổÂm Kim – Âm Kim” Quẻ này là quẻ Thổ Kim Kim: Vận thành công tốt, có thể đạt được hoài bão ước mơ, nhưng tính cách quá cương nghị nên dẫn đến những mâu thuẫn, bác dễ bị người khác công kích (nửa cát).

    Kết quả đánh giá tên Vũ Thiên Bình tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Vũ Thiên Bình bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiên Bình Sinh Ngày 30 Tháng 9
  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 30 Tháng 9
  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 29 Tháng 9
  • Thiên Bình Sinh Ngày 13 Tháng 10
  • Cung Thiên Bình Sinh Ngày 13 Tháng 10
  • Tết Trung Thu Còn Gọi Là Gì? Tết Trung Thu 2022 Vào Ngày Bao Nhiêu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Bảo Bình Đến Bao Giờ Anh Mới Chịu Yêu E P1
  • Đâu Mới Là Em Đây, Cô Nàng Bảo Bình?
  • Cả Nước Có 88 Triệu Người Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế
  • Bình Giang (Hải Dương): Phấn Đấu Trở Thành Thị Xã Vào Năm 2022
  • Đấu Giá Quyền Sử Dụng Đất Ở Tại Huyện Bình Giang, Hải Dương
  • Tết Trung thu ban đầu được biết đến là cái tết của người lớn và sau đó nó dần trở thành Tết của thiếu nhi. Tết Trung Thu được tính theo Âm lịch là vào ngày Rằm tháng 8.

    Trung thu được xem là một cái tết lớn trong năm, Tết Trung thu là một phong tục rất có ý nghĩa hằng năm, nó mang ý nghĩa của sự chăm sóc, của sự hiếu thảo như ngày báo hiếu, của lòng biết ơn, sự tri ân, của tình thân bằng hữu, của đoàn tụ, và của yêu thương.

    Tết Trung thu ban đầu được biết đến là cái tết của người lớn và sau đó nó dần trở thành Tết của thiếu nhi. Tết Trung Thu được tính theo Âm lịch là vào ngày Rằm tháng 8. Trẻ em rất háo hức chào đón ngày này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, nào là đèn ông sao, mặt nạ.. và được ăn bánh trung thu.

    Tết trung thu còn có tên gọi khác là gì?

    Ai cũng biết đến ngày tết trung thu nhưng lại r ất ít người biết Tết Trung thu còn có tên gọi khác là gì?

    Tết Trung Thu còn có các tên gọi khác như Tết Thiếu Nhi, Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên.

    + Tết thiếu nhi: dịp này là dịp các bé được người lớn tặng nào là đồ chơi, bánh kẹo… Vào những ngày này, các em sẽ được rước đèn lồng, vừa phá cỗ Trung Thu, hát những bài hát và vui chơi trung thu như múa Lân, múa Rồng hay chơi các trò chơi… các hoạt động dành cho trẻ em khá nhiều, hình ảnh chú Cuội, chị Hằng đúng ý nghĩa dành cho thiếu nhi. Vì vậy mà nó còn có tên là tết thiếu nhi.

    + Tết Trông trăng: Vào ngày này, dân gian cũng thường làm những mâm cỗ Trung Thu và không thể thiếu những chiếc bánh trung thu. Trong dịp này mọi gia đình cùng quây quần bên nhau, cùng nhau ngắm trăng, phá cỗ Trung Thu, tâm tình, ngắm trăng nên từ đó, Tết Trung Thu còn có tên gọi khác là Tết trông Trăng.

    + Tết Đoàn viên: tên gọi này bắt nguồn từ ý nghĩa của ngày Tết Trung Thu bởi vào ngày này ai cũng mong muốn được trở về bên gia đình, được quây quần bên nhau, cùng chia sẻ những tâm sự, thưởng thức những miếng bánh trung thu thật nghĩa tình và ấm áp. Còn gì quý hơn những giây phút đó khi được về bên gia đình, được nhìn những đứa trẻ nô đùa khắp sân nhà với những chiếc đèn lồng lấp lánh, mọi hình ảnh tuổi thơ được hiện về, vì vậy mà cái tên ý nghĩa này được hình thành.

    Trung thu ngày mấy?

    Trung thu là ngày 15/8 (âm lịch) hàng năm vì ngày này mặt trăng tròn nhất và sáng nhất. Bên cạnh đó vào thời gian này cũng đã thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà trong đó tiêu biểu là lễ hội trăng rằm.

    Tết Trung thu 2022 vào ngày bao nhiêu dương lịch?

    Tết trung thu năm 2022 sắp đến gần, bạn muốn biết năm nay trung thu ngày bao nhiêu dương lịch để biết được ngày chính xác để giúp bạn và gia đình có thể lên kế hoạch cho những chuyến vui chơi trung thu sao cho hợp lý nhất hay thu xếp thời gian để về quê đón trung thu cùng gia đình.

    Thường thì ở công ty, doanh nghiệp thường sử dụng ngày lịch dương. Vì vậy, nhiều người thường thắc mắc Tết trung thu 2022 là vào ngày bao nhiêu dương lịch để cho công ty đi du lịch vào ngày này hay mua quà tặng cho khách hàng, đối tác vào dịp này.

    Theo như bảng lịch 2022 thì Tết trung thu năm nay (tức ngày 15/8 âm lịch) sẽ rơi vào thứ 6, ngày 13/9 dương lịch.

    Vậy: Tết trung thu 2022 sẽ rơi vào ngày 13/09/2019 dương lịch

    Nguồn gốc phong tục, ý nghĩa tết Trung thu ở Việt Nam

    Phong tục

    Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê – Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa.

    Tết Trung Thu có nguồn gốc văn minh nông nghiệp của dân tộc Việt. Thời điểm này khí trời mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi.

    Đối với người Việt, đêm rằm tháng 8, đêm rằm Trung Thu mọi người vừa ăn cỗ vừa kể chuyện về trăng. Trăng là Thái Âm, là nơi mát lạnh với nhiều điều tốt đẹp, theo sự tích dân gian còn có thỏ ngọc, cây đa, chú Cuội, chị Hằng.

    Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, ban ngày làm cỗ gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm đủ các màu sắc, sặc sỡ, xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành hình các bông hoa, nặn bột làm con tôm, con cá …

    Đồ trẻ con chơi trong Tết này toàn là các thứ bồi bằng giấy như là: voi, ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng, hươu, tôm cá, bươm bướm, bọ ngựa, cành hoa, giàn mướp, đèn cù, ông nghè đất, con thiềm thừ… những năm gần đây còn có nhiều đồ chơi bằng nhựa, bằng sắt…

    Trẻ em tối đêm rằm dìu dắt nhau từng đàn từng lũ, đám thì nhảy ô, đám thì kéo co, đám thì rước đèn, rước sư tử, trống, thanh la đánh vang cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa rầm rĩ…

    Trong dân gian, Tết Trung Thu ngoài việc cúng gia tiên, phá cỗ, nghe chuyện về trăng, còn có chơi đèn kéo quân, đèn ông sao, đèn cá chép, đèn cầy… Các trò như múa sư tử, hát đúm, hát trống quân… đã trở thành ngày hội không những của trẻ em mà còn của người dân cả nước.

    Ý nghĩa của Tết Trung thu

    Vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bày cỗ cho các con để mừng Trung Thu, mua và làm nhiều loại lồng đèn thắp bằng nến, treo trong nhà và hoặc tổ chức cho trẻ em rước đèn. Cỗ mừng Trung Thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác. Đây là dịp để các bậc cha mẹ, ông bà tùy theo khả năng kinh tế gia đình thể hiện tình thương yêu con cháu. Đây cũng là dịp để tình yêu gia đình thêm khăng khít, gắn bó.

    Cũng trong dịp này, mọi người mua bánh Trung Thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác.

    Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người dân ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bia Khắc Chữ Của Giang Trạch Dân Bị Gỡ Bỏ Khỏi Trường Đảng
  • Lê Bảo Bình: ‘tôi Không Có Ý Định Trở Thành Hit Maker’
  • Đọc Truyện: Tiên Thảo Cung Ứng Thương
  • Nếu Ai Đó Một Ngày Bỗng Làm Bạn Khóc, Bạn Có Sẵn Sàng Tha Thứ Cho Điều Đó Không
  • Các Chòm Sao Rất Ít Khi Rơi Nước Mắt Nhưng Lại Ôm Sự Tổn Thương Rất Lâu
  • Gỗ Bạch Dương Còn Được Gọi Là Gỗ Cầu Vồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Thông Minh Nên Yêu Con Gái Cung Bạch Dương
  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Cung Bạch Dương Nữ Trong Tình Yêu
  • Đọc Giải Mã Bạch Dương.
  • Năm Mùi Khám Phá Du Lịch Xứ Cừu Dê
  • Cung Bạch Dương Nam Nữ Khi Yêu
  • Để mua gỗ bạch dương hiện nay rất dễ dàng, bạn có thể đến bất kỳ điểm bán gỗ nào trên toàn quốc.

    Gỗ bạch dương có lõi màu kem nhạt, cũng có khi màu nâu vàng, với những vệt xuyên màu xám hoặc màu xanh lá cây. Dát gỗ màu vàng nhạt đến trắng, không phải lúc nào cũng được phân định rõ ràng với tâm gỗ, cũng có khi dát gỗ có nhiều khoáng màu khác nhau, từ màu tím sẫm đến màu đỏ, xanh lá cây, hoặc màu vàng, vì thế nó còn được gọi là gỗ cầu vồng.

    Màu sắc gỗ có xu hướng sậm hơn khi tiếp xúc với ánh sáng. Gỗ bạch dương ở nước ta hiện nay chủ yếu là gỗ bạch dương nhập khẩu, gần như không có gỗ bạch dương Việt Nam (tức là gỗ bạch dương được sản xuất ở Việt Nam). Nếu như trước đây chúng ta chỉ có gỗ tròn thì giờ lại chủ yếu là gỗ bạch dương xẻ sấy.

    có hạt đồng nhất, kết cấu trung bình. Các kích thước gỗ bạch dương nhập khẩu hiện nay đều được làm theo tiêu chuẩn quốc tế, không có sự khác biệt giữa kích thước gỗ bạch dương châu âu và kích thước gỗ bạch dương Mỹ nguyên liệu, … Các công ty gỗ bạch dương hiện nay kinh doanh sản phẩm gỗ bạch dương rất đa dạng, đáp ứng rất tốt nhu cầu của người tiêu dùng về gỗ poplar hiện nay.

    Gỗ bạch dương phản chiếu ánh sáng tự nhiên yếu. Để mua được giá gỗ poplar rẻ, theo chuyên gia của chúng tôi, bạn nên tham khảo giá gỗ bạch dương từ nhiều nhà cung cấp gỗ khác nhau, vì thực tế ở nước ta là, mỗi nhà cung cấp, tùy chiến lược kinh doanh của mình mà đưa ra các mức giá không giống nhau, ví dụ, giá gỗ xẻ sấy của công ty A khác giá gỗ bạch dương xẻ sấy của công ty B, … Khi tìm hiểu về gỗ bạch dương, bạn cũng lưu ý là phải yêu cầu thông tin gỗ bạch dương mới và chỉ tham khảo thông tin tại các công ty gỗ poplar uy tín.

    Theo chuyên gia của chúng tôi thì nhược điểm duy nhất của gỗ bạch dương là nó hơi mềm so với một số loại gỗ cứng khác, vì thế mà trong một số ứng dụng, nó đáp ứng không tốt yêu cầu được đặt ra. Bề mặt gỗ bạch dương không được nhẵn, vì thế mà nó phù hợp với những sản phẩm yêu cầu phun sơn bề mặt gỗ hoặc dán giấy dán gỗ chuyên dụng hơn là để mặt gỗ mộc.

    Hiện nay, các điểm bán gỗ đã được bố trí nhiều hơn, đều khắp các tỉnh thành chứ không chỉ tập trung tại các thành phố lớn như trước đây. Bạn có thể đến các điểm bán gỗ poplar bình dương, điểm bán gỗ poplar hà nội để tìm mua giá gỗ bạch dương rẻ, mua các sản phẩm gỗ poplar nguyên liệu chất lượng, phù hợp với yêu cầu của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạch Dương: Cô Đơn Cũng Có Hai Mặt Của Nó ⋆ Starsworld
  • Bọ Cạp Và Bạch Dương Có Hợp Nhau Không? Sự Kết Hợp Kỳ Diệu
  • Hình Ảnh Cung Bạch Dương (21/3
  • Bạch Dương Nhóm Máu B
  • Đặc Trưng Cung Bạch Dương Nhóm Máu B
  • Tên Gọi Của Bạn Có Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Ra Sao? (P.3)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Cách Cung Song Ngư Nam
  • Tình Yêu Của Song Ngư Năm 2022
  • Tử Vi Năm 2022 Của Cung Song Ngư
  • 6 Bí Quyết Chinh Phục Chàng Trai Song Ngư
  • Quà Tặng Sinh Nhật Cho Nam Song Ngư Sinh Nhật An…
  • Mỗi người chúng ta sinh ra trên đời đều có một cái tên. Cái tên là dấu ấn của cá nhân, gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội và cả những ước vọng của người đặt tên gửi gắm vào trong ấy. Hiểu được cái tên của chính mình, một người có thể thấu hiểu nỗi lòng mẹ cha, trân quý sinh mệnh bản thân và hướng về những giá trị nhân sinh cao đẹp. Chuyên mục Văn Hoá – Thời báo Đại Kỷ Nguyên trân trọng gửi đến quý độc giả loạt bài phân tích, bình giải nội hàm văn hoá của những cái tên Việt, với hy vọng đồng hành cùng các bạn trên con đường tìm lại bản ngã tiên thiên thuần tịnh.Ngày nay, việc đặt tên cho con đã trở thành một nỗi trăn trở của bao gia đình Việt. Phần vì ai cũng muốn tìm cho con một cái tên tốt đẹp, hợp “phong thuỷ”, có thể phát huy sở trường, tiết chế sở đoản; phần vì đôi khi những ý kiến khác biệt của cha mẹ, ông bà về cách đặt tên cũng dẫn tới mâu thuẫn.

    Cái tên được chọn có khi không vừa lòng tất cả thành viên trong gia đình, thậm chí không vừa lòng cả chủ nhân của cái tên ấy (khi “bé” lớn lên). Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng mỗi cái tên đều là duyên phận Trời ban, và nếu như mỗi người chúng ta bỏ công tìm hiểu nội hàm văn hoá truyền thống đằng sau nó, tu dưỡng bản thân theo đức hạnh mà cái tên ấy truyền tải… thì ai cũng có thể đạt tới nhân sinh hạnh phúc.

    8. Bình (chữ Hán: 平)

    “Bình” 平 nghĩa là công bằng, công chính, không thiên lệch, yên ổn, điều hoà. Tên Bình vì thế chỉ người chí công vô tư, biết phân định đúng sai, tính khí ôn hoà, biết điều phối công việc, có thái độ bình tĩnh an định trước cuộc đời.

    Tên nam giới thường dùng chữ Bình với nghĩa là dẹp yên, sửa trị. Theo quan niệm Nho gia truyền thống, người quân tử phải biết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Sách Đại học viết:

    “Xét sự vật cho cùng lẽ rồi thì sự hiểu biết mới đạt đến đích, hiểu biết thấu đáo rồi thì điều mình suy nghĩ mới được chân thành (thành ý).

    Điều mình nghĩ có chân thành thì lòng mình mới ngay thẳng (chính tâm), lòng có ngay thẳng thì bản thân mới tu dưỡng và rèn luyện được (tu thân).

    Tu dưỡng và rèn luyện bản thân được rồi thì mới sửa sang, sắp xếp việc nhà (tề gia). Sắp xếp việc nhà được rồi thì mới lo liệu cho đất nước (trị quốc). Lo liệu cho đất nước được thì thiên hạ mới yên ổn (bình thiên hạ)”.

    Lê Lợi khi phất cờ khởi nghĩa chống giặc Minh từng xưng là “Bình Định vương”. Ông sinh ra trong gia tộc nhiều đời làm quân trưởng ở Thanh Hoá, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Tướng nhà Minh biết tiếng ông, đã trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục. 3 tiếng “Bình Định vương” thể hiện rõ nét ở đoạn sử sau trong sách Lam Sơn thực lục: “Nguyên trước nhà vua kinh doanh việc bốn phương, bắc đánh giặc Minh, nam đuổi quân Lào, mình trải trăm trận, đến đâu được đấy”.

    Trong khi đó, tên nữ giới thường dùng chữ Bình trong nghĩa yên bình, bình hòa, với mong ước một cuộc đời yên vui, đồng thời biết trân quý và gắng sức dựng xây, gìn giữ cuộc sống bình yên như trong câu thơ:

    “Thái bình nên gắng sức,

    Non nước ấy ngàn thu”.

    (Trần Quang Khải)

    9. Hiển (chữ Hán: 顯)

    “Hiển” 顯 nghĩa là rõ ràng, sáng tỏ, vẻ vang, vinh diệu, như trong “hiển đạt”, “quý hiển”, “vinh hiển”.

    Chữ Hiển 顯 gồm có bộ Hiệt 頁 (đầu) ghép với chữ Nhật 日 (mặt trời), hai chữ Yêu 幺(bé nhỏ) và bốn chấm Hoả (灬), có nghĩa là những đồ trang sức nhỏ bé trên đầu sáng rực rỡ như mặt trời, như lửa, biểu thị người hiển đạt, vinh hiển.

    Hiếu Kinh có viết: “Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã”, nghĩa là: Lập thân hành đạo, rạng danh ở đời sau, làm vẻ vang cha mẹ, (đó) là tận cùng của hiếu. Chẳng thế mà Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan từng có thơ rằng:

    “Nam nhi tự hữu hiển dương sự,

    Khẳng tác ngang tàng nhất trượng phu”.

    Dịch nghĩa:

    Nam nhi tự có chí làm vẻ vang cho cha mẹ

    Muốn làm một kẻ trượng phu khí phách hiên ngang.

    Nhà Nho xưa cũng quan niệm rằng, khi gặp thời thì đem tài năng ra phục vụ đất nước (Hiển), còn nếu chính sự thối nát thì đi ở ẩn để giữ gìn tiết tháo trong sạch (Tàng). Ngô Thì Nhậm có bài thơ “Mừng bạn” chứa hai chữ “hiển tàng” này như sau:

    “Khang tế đại thần phi độ ngoại,

    Hiển tàng quân tử chính thời trung”.

    Dịch nghĩa:

    Giúp dân yên vui, bậc đại thần không ngoài bổn phận

    Xuất hay xử, người quân tử phải xử đúng thời.

    10. Phong (chữ Hán: 豐, 峰, 風, 鋒, 楓)

    Tên Phong trong tiếng Việt thường mang các sắc nghĩa: phong phú (豐), ngọn gió, phong thái (風), đỉnh núi (峰), sắc nhọn (鋒), hay cây phong (楓).

    Chữ Phong 豐 nghĩa là đầy đủ, to lớn, tốt tươi, được mùa, sung túc; ví như trong: “phong phú” (dồi dào), “phong y túc thực” (ăn no mặc ấm), “phong công vĩ nghiệp” (công to nghiệp lớn).

    Chữ Phong 豐 phía dưới có bộ Đậu 豆, phía trên là hình mầm đậu, hạt đậu đang nảy mầm đầy đặn, phong mãn, có thể đặt tên cho cả nam và nữ.

    Trong lịch sử phương Đông, có một vị Thánh nhân danh chấn thiên hạ mang tên Phong 豐, đó chính là Trương Tam Phong – tổ sư phái Võ Đang, người sáng lập ra Thái Cực Quyền.

    Tương truyền, Trương Tam Phong từng tham gia thi cử, tìm kiếm công danh. Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ với một vị Đạo trưởng họ Khâu, Trương Tam Phong bỗng ngộ ra: “Phú quý như cặn bã cỏ rác, năm tháng thời gian lại nhanh giống như tia chớp vậy. Điều quý giá nhất của đời người là tìm kiếm đại Đạo”. Thế là, từ đây Trương Tam Phong quyết định từ bỏ con đường danh lợi, ngao du bốn biển, thăm hỏi minh sư.

    Sau này, khi Trương Tam Phong đã đắc Đạo thành Tiên, Hoàng đế nhà Minh nhiều lần thỉnh cầu gặp mặt nhưng ông vẫn nhất mực ẩn cư. Biết được Minh Thành Tổ cầu xin bí kíp trường sinh bất lão, Trương Tam Phong đã hồi đáp bằng một bài thơ, tạm dịch như sau:

    “Trời đất giao hòa tạo hóa công,

    Quốc gia thịnh trị Đạo hanh thông.

    Hoàng Cực Điện kia rồng hổ tĩnh,

    Trống chuông văng vẳng vượt tầng không.

    Thần nơi hoang dã là vô dụng,

    Vua hỏi tiều phu ấy hữu tình.

    Dám đem lời mọn phiền Thánh đế,

    Thanh tâm quả dục phép trường sinh”.

    Các chữ Phong còn lại lần lượt là:

    Chữ Phong 鋒 gồm bộ Kim 金 (vàng, kim loại) và chữ Phong 夆 (đỉnh núi – chữ cổ), có nghĩa là mũi nhọn, sắc nhọn, sắc bén. Chữ này vẫn được dùng trong tiếng Việt như trong các từ: tiên phong, xung phong, tiền phong… Do đó, nó thường để đặt tên cho nam giới.

    Chữ Phong 峰 gồm chữ Sơn 山 (núi) và chữ Phong 夆 (đỉnh núi – chữ cổ), có nghĩa là đỉnh núi, mỏm núi, đỉnh cao. Tiếng Việt hiện nay ít dùng, chỉ còn trong tên núi như Tây Phong Lĩnh, hay thành ngữ “Đăng phong tạo cực” (Lên đến đỉnh cao (sự nghiệp)). Chữ này cũng thường dùng cho nam giới.

    Chữ Phong 風 nghĩa là gió, phong thái, phong khí, phong tục. Chữ này có thể dùng đặt cho tên cả nam và nữ, hàm ý phong thái, phong độ, thuần phong mỹ tục.

    Chữ Phong 楓 nghĩa là cây phong – một loài cây đẹp, xuân nở hoa từng chùm như những trái bóng tròn, thu về lá chuyển màu đỏ rực, vì thế xưa thường được trồng trong cung vua. Chữ này đặt tên cho nữ. Hình ảnh cây phong rất thi vị trong câu thơ của Nguyễn Du:

    “Người lên ngựa, kẻ chia bào,

    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

    (Truyện Kiều)

    11. Phương (chữ Hán: 方 hoặc 芳)

    “Phương” 方 nghĩa là ngay thẳng, chính trực, như trong “chân phương”, “phương chính”. Phương còn có nghĩa là đạo lý lễ nghĩa. Chữ phương này thường để đặt tên cho nam giới.

    Đạo Đức Kinh có viết: “Thị dĩ Thánh nhân phương nhi bất cát, liêm nhi bất quế”, nghĩa là: Như thế bậc Thánh nhân chính trực mà không làm thương tổn người, có góc cạnh mà không làm hại người.

    Triều nhà Nguyễn, nước Việt Nam có một vị đại thần trung liệt tên Phương, đó chính là Nguyễn Tri Phương (chữ Hán: 阮知方). Ông vốn tên là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập, ông đã làm nên cơ nghiệp lớn. Nguyễn Tri Phương là Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Thành Hà Nội thất thủ, bị quân Pháp bắt giữ nhưng ông đã cự tuyệt hợp tác và tuyệt thực tới chết. Danh tiếng của ông vang mãi tới ngày hôm nay.

    Tên Tri Phương là do vua Tự Đức đặt cho ông, có xuất xứ từ Luận ngữ như sau:

    “Tử Lộ suất nhĩ nhi đối viết: ‘Thiên thặng chi quốc, nhiếp hồ đại quốc gia gian, gia chi dĩ sư lữ, nhân chi dĩ cơ cận, Do dã vi chi, tỷ cập tam niên, khả sử hữu dũng, thả tri phương dã'”.

    Dịch nghĩa:

    Tử Lộ trả lời ngay: “Quốc gia có ngàn cỗ chiến xa, nằm giữa 2 quốc gia lớn, bên ngoài bị uy hiếp quân sự, bên trong gặp thiên tai mất mùa đói khổ, nếu để Do (tức Tử Lộ) này trị sửa, 3 năm sẽ khiến bách tính đều dũng cảm, lại biết đạo lý lễ nghĩa”.

    Còn chữ “Phương” 芳 gồm bộ Phương 方 và bộ Thảo đầu 艹 kết hợp lại thì có nghĩa là mùi thơm của cỏ hoa, cỏ thơm, cũng có nghĩa là tiếng thơm, đức hạnh và tốt đẹp. Ví dụ như trong: “phương thảo” (cỏ thơm), “phương danh” (tiếng thơm), “phương tư” (dáng dấp xinh đẹp), “lưu phương bách thế” (để tiếng thơm trăm đời). Chữ Phương 芳 này có thể đặt cho cả nam và nữ, xuất hiện trong bài thơ Đường “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu:

    “Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

    Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

    Yên ba giang thượng sử nhân sầu”.

    Trích bản dịch của Khương Hữu Dụng:

    Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,

    Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.

    Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?

    Khói sóng trên sông não dạ người.

    (Còn tiếp…)

    Thanh Ngọc – Nam Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Của Bạn Nữ
  • Tranh Thêu Để Bàn Tranh Thêu Tặng Đám Cưới Người Nước Ngoài
  • Tranh Thêu Tay Cao Cấp: Song Ngư Và Hoa Sen Tth 198
  • Lá Bài Eight Of Cups: Sao Thủy Tại Song Ngư
  • Ý Nghĩa Ngày Sinh Của Song Ngư Sinh Ngày 06
  • Lịch Sử Tên Gọi Các Chòm Sao Thiên Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tarot & Astro: Vòng Tròn Hoàng Đạo 2022
  • Nasa Thay Đổi Ngày Sinh Của 12 Cung Hoàng Đạo, 86% Số Người Sẽ Bị Đổi Chòm Sao Khác
  • Nhận Diện Phong Cách Chụp Ảnh Của 12 Chòm Sao
  • Khám Phá Dấu Hiệu 12 Chòm Sao Thích Bạn Chỉ Trong Vòng 1 Nốt Nhạc
  • 3 Chòm Sao Nữ Không Thích Yêu Xa, Ngại Ngần Khoảng Cách Địa Lý
  • Vào mỗi đêm, khi quan sát bầu trời đêm, chúng ta liên tưởng đến một loạt những câu chuyện thần thoại Hy Lạp như Anh Tiên bay đến giải thoát cho Tiên Nữ, Lạp Hộ đối mặt với những con thú dữ, Mục Phu và những con gấu quay quanh cực, đoàn tàu Argo đi tìm kiếm bộ lông cừu. Những điều này được mô tả bởi một nhóm các ngôi sao mà những nhà thiên văn học gọi là chòm sao.

    Chòm sao là phát minh của trí tưởng tượng của con người, không phải do tự nhiên sắp đặt. Chúng là những khuôn mẫu qui ước do con người tưởng tượng ra từ những ngôi sao xuất hiện hỗn độn trong bầu trời đêm. Nó giúp cho việc định hướng trong hàng hải, dẫn dắt con người đi trên sa mạc, tính toán lịch nông nghiệp cổ đại, đồng hồ trong đêm tối. Việc phân chia bầu trời thành từng nhóm giúp ta kiểm soát việc đó dễ dàng hơn.

    Những người mới biết đến thiên văn học, hẳn sẽ sớm thất vọng để tìm thấy phần lớn những ngôi sao trong chòm sao Tiểu Hùng và những cái tên của nó, chúng ta khó có thể hình dung được hình ảnh của nó trên bầu trời. Bầu trời đêm là một hình ảnh về trí tưởng tượng của con người, phản ánh những việc làm hoặc hiện thân của những vị thần, những động vật và những mẩu chuyện ngắn đầy tính nhân văn và thần thánh. Đó là một bức tranh rộng lớn mà ta quan sát được vào mỗi đêm khuya.

    Hệ thống các chòm sao mà chúng ta sử dụng ngày nay, phần lớn từ danh sách 48 chòm sao được công bố vào thập kỷ 150 bởi nhà khoa học Hy Lạp Ptolemy trong cuốn sách Almagest. Sau đó các nhà khoa học đã bổ sung thêm 40 chòm sao nữa để lấp đầy những khoảng trống trên bầu trời không có trong danh sách các chòm sao của Ptolemy ở vùng quanh cực Nam Trái Đất, những nơi mà không thể quan sát được từ Hy Lạp. Kết quả là có 88 chòm sao kề nhau được chấp nhận bởi Hiệp hội Thiên văn học Quốc tế (IAU).

    Những chòm sao được Ptolemy liệt kê ra, không phải là phát minh của riêng ông mà chúng đã xuất hiện từ rất lâu trước đó. Tuy nhiên, cho đến ngày nay nó đã chìm sâu vào quá khứ do thời gian. Trước thời ông, Homer và Hesiod chỉ đề cập đến một vài nhóm ngôi sao như Đại Hùng, Lạp Hộ, Quần tinh sao Đám hạch lớn.

    Chặng đường đầu tiên được nhìn nhận rõ ràng là ở phương Đông, ở vùng ven sông Tigris và Euphrates tại Irắc ngày nay. Vào thời Babylon, thời đại mà Homer và Heriod sống, những chòm sao hoàng đạo đã xuất hiện, đó là ở những vùng mà Mặt Trời, Mặt Trăng và những hành tinh đi qua. Chúng ta biết đến điều này thông qua một danh sách được viết trên đất sét có ghi ngày tháng vào năm 687 TCN. Scholars gọi danh sách này là chúng tôi – tên của một vị thần được ghi trong bảng. Những chòm sao Babilon có nhiều nét tương đồng với những chòm sao mà ngày nay chúng ta biết đến, nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Từ những văn bản khác nhau, các nhà sử học cho rằng những chòm sao này đã xuất hiện từ rất lâu trước đó, từ thời tổ tiên của họ là người Sumerians khoảng năm 2000TCN.

    Xác minh nơi phát minh ra những chòm sao:

    Nếu như Homer và Heriod đã đề cập đến những chòm sao Hoàng Đạo. Ta xem xét tập hợp các chòm sao trong danh sách của nhà thiên văn học Eudoxus (390TCN – 340TCN). Eudoxus được cho là học được những chòm sao từ những người thầy tu Ai Cập và giới thiệu nó cho người Hy Lạp. Ông đã công bố những chòm sao này trong 2 công trình Eloptron và Phaenomena. Cả 2 công trình này đều đã mất, nhưng Phaenomena vẫn tiếp tục sống mãi trong trường ca cùng tên của một học giả Hy Lạp khác là Aratus (315TCN – 245TCN). Phaenomena của Aratus đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về những chòm sao được biết đến bởi người Hy Lạp cổ đại.

    Aratus được sinh ra ở Soli trong Cilicia tại bờ biển miền Nam mà ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ; ông học ở Athena trước khi làm cho tòa án của vua Antigonus của Maccedonia ở Bắc Hy Lạp. Tại đó, nhà vua yêu cầu ông viết tác phẩm Phaenomena vào khoảng năm 275TCN. Trong tác phẩm của mình, ông đưa ra 47 chòm sao như Nước (nay là chòm sao Bảo Bình) và Đám mây to. Aratus đã đặt tên 6 ngôi sao: Arcturus, Capella, Sirius, Procyon, Spica, Vindemiatrix. Ngôi sao cuối cùng trong số đó là đáng ngạc nhiên hơn cả, vì nó là ngôi sao sáng yếu hơn các ngôi sao trước, nhưng người Hy Lạp dựa vào nó để tính lịch thu hoạch nho.

    Không khó để tìm ra nơi phát minh ra những chòm sao trong danh sách của Eudoxus và Aratus. Đầu tiên, Aratus không đưa ra các chòm sao phương Nam vì nó thường ở dưới đường chân trời tại vị trí ra đời các chòm sao. Do đó từ phạm vi các chòm sao được đưa ra có thể kết luận, nơi ra đời các chòm sao ở trên vĩ tuyến 35-36oB, tức là vùng Nam Hy Lạp, Bắc Ai Cập ngày nay.

    Từ thực tế là cực của Trái Đất có chuyển động lắc lư từ Tiến động làm ảnh hưởng đến vị trí của các ngôi sao. Từ sự phân tích mới của Bradley Schaefer của trường ĐHQG Louisana kết luận những mô tả của Eudoxus tương ứng với vùng trời năm 1130 TCN. Khi đó, ta có thể kết luận các chòm sao trong danh sách của Eudoxus và Arates được phát minh bởi những cư dân sống ở Nam vĩ tuyến 36oB. Tại thời điểm đó, còn quá sớm khi nói đến nền văn minh Hy Lạp nhưng lại quá muộn khi nói đến văn minh Ai Cập. Tuy nhiên thời gian và không gian ở trên lại phù hợp cho vùng đất Babilon nơi mà tổ tiên của họ là Sumerian sống trên dải đất Mesopatamia là nơi phát minh ra các chòm sao vào khoảng năm 2000TCN.

    Nhưng tại sao hệ thống các chòm sao của Eudoxus không đề cập đến tác động chuyển động của thiên cực? Như chúng ta đã đề cập, những chòm sao được mô tả bởi Eudoxus và Aratus trong Phaenomena tính từ vị trí thiên cực của 1000 năm trước đó. Bởi vậy, tại thời đại Aratus chuyển dịch vị trí của thiên cực trên thiên cầu nên các ngôi sao ở dưới vĩ tuyến 36oB. Chuyển động này của thiên cực chỉ được đề cập đến bởi Hipparchus (146TCN – 127TCN).

    Giáo sư Archie Roy của trường ĐH Glassgow tranh luận về xuất sứ ra đời của các chòm sao không phải từ Babilon và Ai Cập mà đến từ một nền văn minh nào đó, mà ông đề xuất là Minoans trên đảo Crete và những hòn đảo lân cận ven biển Hy Lạp bao gồm Thera. Crete ở giữa vĩ tuyến 35o và 36oB và đế chế này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 3000TCN đến năm 2000TCN.

    Hơn nữa Minoans là nơi thường diễn ra những hoạt động tiếp xúc với Babylon qua Syria trong giai đoạn sớm. Từ đây chúng ta có thể kết luận nơi ra đời các chòm sao có thể từ Minoans.

    Nhưng nền văn minh Minoans đã bị xóa vết từ khoảng năm 1700TCN bởi sự phun trào núi lửa từ hòn đảo Thera cách khoảng 120km về phía Bắc Crete. Đó là một thảm họa thiên nhiên lớn nhất trong lịch sử loài người. Giáo sư Roy cho rằng, người Minoans đã đem nó đến Ai Cập trước khi xảy ra thảm họa và trải qua khoảng 1000 năm sau đó được Eudoxus ghi lại.

    Luận điểm của giáo sư Roy khá thuyết phục, đồng thời hầu hết các thần thoại về các chòm sao có gắn với Crete. Tuy nhiên nó không được chấp nhận do không có những chứng cứ hiện vật như hình ảnh hay mô tả nào về các chòm sao được tìm thấy ở Crete nên nó được cho là suy đoán thiếu căn cứ xác thực.

    Nguồn gốc thần thoại về các chòm sao

    Sau Artus, chúng ta chuyển sang xem xét đến Eratosthenes (276TCN – 194TCN), tác giả của Catasterisms. Ông là nhà khoa học Hy Lạp, làm việc cho Alexandria tại vùng sống Nile. Catasterisms kể về thần thoại 42 chòm sao riêng biệt và những ngôi sao chính. Một phiên bản của Catasterisms là một bản sao còn sót lại và chỉ là một bản tóm tắt viết vào một thời điểm chưa được xác định rõ và nó khẳng định rằng bản chính được viết bởi Eratosthenes.

    Một nguồn khác, cũng kể về thần thoại các chòm sao là cuốn sách thiên văn học Poetic Astronomy của tác giả La Mã Hyginus được viết vào thế kỷ thứ II. Chúng ta không biết nhiều về Hyginus, thậm chí ngay cả cái tên đầy đủ của ông, nhưng chắc chắn ông không phải là C.Julius Hyginus – một nhà văn La Mã sống vào thế kỷ I TCN. Cuốn sách của ông cơ bản nói về các chòm sao trong danh sách của Eratosthenes, nhưng nó chứa đựng thêm nhiều câu chuyện bổ sung. Hyginus cũng viết một bản thần thoại tóm tắt có tên là Fabulae. Trong thời phục hưng và trung cổ, nhiều phiên bản của Hyginus được ấn bản.

    Marcus Manilius, một học giả La Mã mà chúng ta biết rất ít thông tin về ông đã viết cuốn sách Astronomica vào khoảng năm 15 dựa theo Phaenomena của Aratus. Tuy nhiên, nó chứa đựng phần lớn là thuật chiêm tinh hơn là thiên văn học nhưng nó cũng cung cấp những thông tin nhất định về nguồn gốc thần thoại của các chòm sao.

    Ngoài ra, trong thiên văn học cũng đề cập đến 3 tên tuổi khác mặc dù họ không phải là những nhà thiên văn học nhưng cũng góp phần tìm hiểu nguồn gốc tên gọi các chòm sao. Trước tiên là nhà thơ Ovid của La Mã (43TCN – 17) – người đã kể lại nhiều thần thoại trong cuốn sách Metamorphoses lý giải tất cả những biến đổi trong vũ trụ và Fasti – cuốn lịch La Mã. Apollonicus là một người Hi Lạp, người đã biên tập tóm lược gần như là một cuốn sách giáo khoa về thần thoại vào thế kỷ I TCN. Cuối cùng là nhà văn Hi Lạp Apollonicus Rhodius với Argonautica là một bản anh hùng ca ca ngợi Jason và Argonauts, được biên soạn trong gần 1/3 thế kỷ, chứa đựng nhiều câu chuyện thần thoại.

    48 chòm sao của Ptolemy

    Thêm vào đó, việc mô tả những ngôi sao bởi vị trí của chúng đã được sử dụng bởi Eratosthenes và Hipparchus. Như vậy, rõ ràng thời Hy Lạp cổ đại chú ý đến những chòm sao không phải đơn thuần là tập hợp những ngôi sao mà từ bức tranh gắn với bầu trời. Điều này có thể nhận ra rõ ràng hơn khi các ngôi sao có tên cụ thể, nhưng Ptolemy chỉ đặt tên 4 ngôi sao đã được dùng trong 4 thế kỷ trước là: Altair, Antares, Regulas, Vega.

    Thật khó có thể nói hết vai trò của Ptolemy đối với thiên văn học, hệ thống những chòm sao mà chúng ta đang sử dụng ngày nay thực chất là của Ptolemy, được sửa đổi và mở rộng. Cả châu Âu và Ả Rập dùng nó trong trên 1500 năm. Từ trong cuốn sách Atlas Coelestic của nhà thiên văn học quý tốc John Flansteed xuất bản năm 1729 viết: “Từ thời Ptolemy đến chúng ta, những cái tên được ông sử dụng vẫn được tiếp tục sử dụng và học tập ở tất cả các nước, người Ả Rập luôn luôn sử dụng khuôn mẫu của ông và tên những chòm sao. Danh sách Latinh cổ đại và những ngôi sao cố định cũng được sử dụng trong danh sách của Corpernicus và của Tycho Brahe, những danh sách xuất bản bằng tiếng Đức, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Anh cũng sử dụng. Tất cả những quan sát khoa học và chuẩn mực đều sử dụng chòm sao và tên ngôi sao theo khuôn mẫu của Ptolemy, và chúng ta sẽ gặp rắc rối nếu xa rời chuẩn mực đó”.

    Định danh Ả Rập

    Sau thời đại Ptolemy, thiên văn học Hi Lạp trở lên lu mờ, bởi vào thế kỷ VIII, trung tâm thiên văn học di chuyển về phương Đông từ Alexandria sang Baghdad, nơi mà cuốn sách của Ptolemy được dịch sang tiếng Ả Rập với cái tên Almagest mà ngày nay chúng ta biết đến nó. Al-Sūfǐ (903-986) còn được biết đến với cái tên Latinh là Azophi là nhà thiên văn học Ả Rập lớn nhất giới thiệu phiên bản của ông về cuốn sách Almagest trong Book of the Fixed Stars (Cuốn sách về những ngôi sao cố định) giới thiệu nhiều ngôi sao được đặt tên Ả Rập.

    Nhiều ngôi sao sáng được đặt tên Ả Rập, như Aldebaran mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ họ. Họ cũng có những hiểu biết rất khác từ người Hy Lạp, những ngôi sao riêng biệt thông thường để đại diện cho một động vật hay một con người. Ví dụ, ngôi sao α và β Xà Phu có tên Ả Rập là người chăn cừu và con chó của ông. Và nhiều ngôi sao khác có cái tên như lạc đà, linh dương, đà điểu, linh cẩu.

    Nhiều cái tên Ả Rập của Al-Sūfǐ qua nhiều thế kỷ hiện nay không còn nữa. Nhiều ngôi sao khác được Al-Sūfǐ dịch trực tiếp của Ptolemy, ví dụ “miệng cá phương Nam”.

    Một thành tựu nổi bật của thiên văn học Ả Rập là kính đo vị trí thiên thể, một phát minh tương tự phỏng cầu Hi Lạp, nhờ đó tính toán được vị trí của chúng trên thiên cầu.

    Từ thế kỷ X, việc dịch công trình của Ptolemy được lan ra toàn châu Âu bởi sự xâm lược và thống trị của Ả Rập sang tiếng Latinh – ngôn ngữ của khoa học hiện nay. Tại Toledo có một bản dịch trong thế kỷ XII, từ đó lan khắp châu Âu, không chỉ toán học mà cả các khoa học khác, từ tiếng Hi Lạp được dịch sang tiếng Ả Rập, rồi từ tiếng Ả Rập dịch sang tiếng Latinh và được lan truyền ra toàn châu Âu vào thời trung cổ nên chứa đựng trong nó những ngôi sao bằng tiếng Ả Rập và tiếng Hi lạp.

    Mở rộng 48 chòm sao của Ptolemy

    Thời trung cổ, những cuộc thám hiểm được tiến hành ồ ạt, những nhà thiên văn học lái sự chú ý của mình đến những vùng mà bấy giờ chưa được đánh dấu trên thiên cầu nam do nó luôn nằm ở phía dưới đường chân trời ở thời Hi lạp cổ đại, với 3 tên tuổi nổi bật vào thời kỳ này là Petrus Plancius (1552-1622) – một giáo sư thiên văn học và bản đồ học người Hà Lan, với cái tên Latinh là Pieter Platevoet và 2 tên tuổi còn lại cũng là người Hà Lan là Petrus Theodorus hoặc Peter Theodore và Frederick de Houtman (1571-1627).

    Do thám bầu trời phương Nam

    Plancius theo chỉ dẫn của Keyser tiến hành những quan sát để điền vào những khu vực chống xung quanh thiên cực nam. Keyser đi trên con tàu Hollandia và Mauritius, 2 trong số 4 con tàu khởi hành từ Hà Lan trên hành trình buôn bán và thám hiểm vùng Đông Ấn và cập cảng Mađagaxca. Keyser là một con người khá thành thạo thiên văn và toán học. Học giả Hà Lan A.J.M.Wandes trong cuốn sách In the Realm of the Sun and stars đã miêu tả những quan sát của Keyser, sau đó được bàn giao lại cho Plancius. Keyser chết vào tháng 9/1596 trên hành trình tại Bantam (hiện nay là Banten – một địa danh gần Java). Danh sách của ông để lại gồm 135 ngôi sao được trao cho Plancius khi chuyến tàu này quay trở lại Hà Lan một năm sau đó. Đáng tiếc là có quá ít tài liệu nói về cuộc đời và sự nghiệp của Keyser, nhưng tên tuổi của ông đã được ghi danh trên bầu trời.

    Những ngôi sao của Keyser được chia thành 12 chòm sao mới, nó xuất hiện lần đầu tiên trên quả cầu của Plancius và 2 năm sau đó là trên quả cầu của nhà bản đồ học Hà Lan Jodocus Hondius. Những ngôi sao này được chính thức công nhận bởi Johann Bayer – một nhà thiên văn học người Đức trong cuốn sách Uranometria xuất bản năm 1603, một bản đồ sao có giá trị hàng đầu khi đó. Những quan sát của Keyser cũng được xuất bản trong cuốn sách Rudolphine Tables của Johannes Kepler năm 1627. Đáng tiếc là bản thảo gốc của Keyser đã mất nên chúng ta không biết được liệu Keyser có phân loại những ngôi sao của mình thành 12 ngôi sao hay không hay là một người khác như Plancius.

    Hạm đội Hà Lan, nơi mà Keyser là thuyền trưởng sau đó được trao cho nhà thăm dò Cornelis de Houtman, một trong những thủy thủ của ông là em trai ông là Frederick de Houtman – người đã giúp đỡ Keyser rất nhiều trong những quan sát của ông. Trong cuộc thám hiểm lần 2 vào năm 1598, Cornelis bị giết và Frederick bị bỏ tù ở phía Bắc Xumatra. Frederick đã tiến hành quan trắc và học tiếng Mã lai trong 2 năm bị cầm tù.

    Từ danh sách những ngôi sao phương Nam của De Houtman, nó được chia thành 12 chòm sao thể hiện trên quả cầu của Plancius và Hondius, và được sử dụng bởi nhà bản đồ học Hà Lan Wiliem Janpzoon Blaeu được công bố vào năm 1603. Keyser và Houtman được cho là đồng phát minh của 12 chòm sao phương Nam mà chúng ta vẫn sử dụng ngày nay.

    Nhưng dù sao đi nữa, Plancius cũng phát minh ra một số chòm sao cho riêng mình, trong số đó là Thiên Cáp mà ông đưa ra gồm 9 ngôi sao mà trước đó Ptolemy đưa vào trong chòm sao Đại Khuyển, cùng với những chòm sao Kỳ Lân, Lộc Báo gồm những ngôi sao sáng khá yếu ớt mà không được liệt kê trong danh sách của Ptolemy.

    Lấp đầy những lỗ hổng còn lại trên thiên cầu

    Do độ chính xác trong các quan chắc thiên văn ngày càng được cải thiện mà những ngôi sao sáng yếu ớt được vẽ lên bản đồ sao, tạo điều kiện cho những nhà canh tân giới thiệu những chòm sao mới, thậm chí trên những vùng trời chưa từng được biết đến trong thời Hi lạp cổ đại. 10 chòm sao mới được giới thiệu vào cuối thế kỷ XVII bởi nhà thiên văn học Ba Lan Johannes Hevelius (1611-1687) đã lấp đầy những lỗ hổng còn lại trên thiên cầu Bắc. Chúng bao gồm những ngôi sao được ông ghi chép vào năm 1687 và được vẽ lên bản đồ sao kèm theo của ông mang tên Firmamentum Sobiescianum. Cả 2 đều được xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1690. Đặc biệt, Hevelius đã cố gắng quan sát bằng mắt thường, mặc dù những kính thiên văn thời bấy giờ là rất sẵn. Nhiều ngôi sao trong số đó sáng rất yếu ớt nhưng vẫn nhìn thấy được thông qua thị lực phi thường của ông. Trong số 10 chòm sao mà ông giới thiệu có 7 chòm sao được các nhà thiên văn học chấp nhận là:

    và 3 chòm sao không được chấp nhận là Cerberus, Mons Maenany và Tam Giác Nhỏ.

    Mặc dù các chòm sao phương Bắc đã đầy đủ, nhưng vẫn còn những lỗ hổng trên bầu trời phương Nam. Nó đã được điền đầy bởi nhà Thiên văn học người Pháp Nicolas Louis de Lacaille (1713-1762) trên đường đi thám hiểm Nam Phi năm 1750. Tại đó, ông dựng một đài quan sát thiên văn cỡ nhỏ tại mũi Hảo Vọng (nay là vùng Cape Town) dưới chân núi Table – một địa điểm để lại cho ông nhiều ấn tượng và sau này, ông đã lấy địa điểm này để đặt tên cho 1 chòm sao – chòm sao Sơn Án. Tại Mũi Đất, từ tháng 8/1751 đến tháng 7/1752, Lacaille đã quan sát được vị trí của gần 10000 ngôi sao, một việc làm đáng kinh ngạc trong một khoảng thời gian khá ngắn.

    Sau khi trở về Pháp năm 1754, Lacaille đã giới thiệu một bản đồ sao phương Nam với Viện hàn lâm Hoàng gia Pháp, trong đó ông giới thiệu 14 chòm sao mới được ông đặt tên:

    Một bản sao của nó được xuất bản trong Mémoires của Viện hàn lâm năm 1756 và nó nhanh chóng được các nhà thiên văn khác chấp nhận.

    Trong khi phần lớn những chòm sao của Keyser và Houtman được đặt tên những loài động vật ngoại lai thì Lacaille lại đặt tên những chòm sao của mình để kỷ niệm những phát minh khoa học, hội họa, âm nhạc. Ngoại trừ chòm sao Sơn Án – tên trước đây của núi Table nơi mà ông thực hiện những quan sát. Danh sách đầy đủ của ông và một bản đồ sao với tên các chòm sao theo tiếng Latinh được xuất bản sau khi ông qua đời năm 1763 với tiêu đề Coelum Australe Stelliferum. Trong danh sách này, ông chia chòm sao Argo Navis – tên một con tàu thành 3 chòm sao: Thuyền Để, Thuyền Vĩ, Thuyền Phàm mà ngày nay chúng ta sử dụng.

    Kể từ thời Lacaille về sau này, tất cả những ai cố gằng làm sai lệch các chòm sao đều không thành công, nhưng nhiều nhà thiên văn học vẫn cố gắng để thử. Rất nhiều chòm sao được nhà thiên văn học người Đức Johann Elert Bode (1747-1826) giới thiệu trong bản đồ sao Uranogphia xuất bản năm 1801, nhưng chúng nhanh chóng bị lãng quên sau đó. năm 1899, nhà sử học Mỹ R.H.Allen đã viết trong sách Star Name and their Meaning: “Từ 80-90 chòm sao là được hiện nay ít nhiều được thừa nhận”.

    Ấn định 88 chòm sao

    Một thiếu sót lớn là vẫn chưa đưa ra ranh giới chung thống nhất giữa các chòm sao. Từ thời Bode, ông đã dùng những dấu chấm ngoằn nghoèo để phân định ranh giới giữa những chòm sao. Tuy nhiên nó không được thống nhất từ bản đồ này sang bản đô khác. Vấn đề đó chỉ được thống nhất qua một Hiệp hội Thiên văn học quốc tế (IAU).

    Tại phiên họp toàn thể đầu tiên năm 1922, IAU đã chính thức chấp nhận danh sách 88 chòm sao bao trùm toàn bộ bầu trời mà ngày nay chúng ta đang sử dụng. IAU trao trách nhiệm cho nhà thiên văn học người Bỉ Eugène Delporte (1882-1955) vẽ đường ranh giới giữa các chòm sao.

    Để thuận tiện cho công việc của mình, nhà thiên văn học người Mỹ Benjamin Apthorp Gould (1824-1896) vào năm 1877 đã phân định ranh giới các chòm sao phương Nam trên tấm bản đồ Uranometria Argentina. Delporte vẽ ranh giới các chòm sao bằng đường thẳng theo đường xích kinh và xích vĩ của năm 1875. Ranh giới đó đảm bảo tất cả những ngôi sao biến đổi ở lại trong chòm sao trên đường di chuyển của chúng, Delporte đã sửa đổi một số đoạn của Gould, đặc biệt sử dụng đường chéo.

    Công trình của Delporte, được IAU phê chuẩn năm 1928 và được xuất bản vào năm 1930 trong cuốn sách Délimitation Scientifique des Constellations – một hiệp ước quốc tế trong sự phân định ranh giới bầu trời mà tất cả các nhà thiên văn học quốc tế phải tuân theo.

    Như vậy, những chòm sao bây giờ được quan tâm không phải là những ngôi sao riêng lẻ mà là một vùng trên bầu trời, tương tự như những quốc gia trên Trái Đất. tuy nhiên không giống như trên Trái Đất, bản đồ bầu trời là bất biến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chòm Sao Là Gì? Giải Mã Kí Hiệu Của 12 Chòm Sao Chính Xác Nhất
  • Bản In Mô Hình Giấy Cung Hoàng Đạo
  • Chọn Lựa Hình Xăm ‘chất Lừ’ Theo Phong Cách 12 Chòm Sao
  • Tử Vi Hôm Nay Của 12 Chòm Sao
  • Tử Vi Hôm Nay Ngày 15/10 Của 12 Chòm Sao
  • Cung Hoàng Đạo Thứ 13 Có Tên Gọi Là Xà Phu, 86% Dân Số Sẽ Bị Đổi Chòm Sao?

    --- Bài mới hơn ---

  • Zodiac Chòm Sao Thứ 13 Ebook Pdf/prc/epub/mobi
  • Download Ebook Zodiac: Chòm Sao Thứ 13
  • Xà Phu Ophiuchus: Bí Ẩn Về Chòm Sao Thứ 13 Và Nasa Cũng Đã Nhầm
  • Tiết Lộ Bí Ẩn Về Cung Hoàng Đạo Thứ 13 Làm Rối Loạn 12 Chòm Sao
  • Người Tình Trong Mơ Của 12 Chòm Sao Là Ai?
  • Chiêm tinh học quy định, ngày sinh của mỗi người tương ứng với cung hoàng đạo khác nhau. Cũng từ đó mà tính cách, sở thích của mỗi người cũng khác biệt. Trước đến nay, chúng ta vẫn thường biết đến 12 cung hoàng đạo là: Ma Kết, Bảo Bình, Song Ngư, Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Bọ Cạp và Nhân Mã.

    Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới nhất của NASA thì sự thật có lúc này trong thiên văn học và chiêm tinh học có đến 13 chòm sao đang tồn tại.

    Người Babylon xưa chỉ lấy 12 chòm sao để tính toán với bộ lịch 12 tháng. Nhưng thực tế mặt trời di chuyển qua 13 chòm sao tương ứng với 13 cung hoàng đạo. Nói cách khách, cung hoàng đạo thứ 13 chính là “anh em” thất lạc 3000 năm của 12 cung trước đó.

    NASA cho biết, chòm sao thứ 13 có tên gọi là Xà Phu, tương ứng với những người có ngày sinh từ 29/11 – 17/12. Xà Phu có biểu tượng một người bắt rắn. Rắn tượng trưng cho sự cuốn hút, hấp dẫn người khác giới. Vì thế những người thuộc cung này có thể rất cuồng nhiệt nhưng dễ ghen như Bò Cạp. Họ cũng “ké” được tầm nhìn xa trông rộng như Nhân Mã và rất được yêu mến. Những người thuộc cung Xà Phu thường gặp may mắn trong cuộc sống.

    Khi công bố của NASA được đưa ra, nhiều người vô cùng hoang mang vì trước đến nay đã quá quen thuộc với 12 chòm sao. Tính cách, bản chất của các chòm sao cũng gắn liền với những người thuộc cung đó. Nếu xét theo khái niệm mới của NASA thì ngày sinh các chòm sao sẽ bị lệch đi trên dưới 20 ngày. Vì thế mà sẽ có rất nhiều sự thay đổi, xáo trộn.

    Thế nhưng, trước mắt mọi người có thể yên tâm bởi NASA cũng cho biết họ không hoàn toàn thay đổi cung hoàng đạo mà chỉ làm một thuật toán nghiên cứu về thiên văn học và đưa ra con số chính xác về những chòm sao vốn có trên vũ trụ này mà thôi.

    Cụ thể 13 cung hoàng đạo được NASA công bố sau khi nghiên cứu:

    Tuy nhiên, chẳng có gì thay đổi đối với bạn hết. Nếu bạn đang là Song Tử, bạn vẫn sẽ là Song Tử. Nếu bạn đang là Bọ Cạp, bạn vẫn là Bọ Cạp. Và chòm sao thứ 13 kia vẫn không phải là cung Hoàng đạo thứ 13 trong Chiêm tinh học. Bởi sự thật rằng Chiêm tinh học không phải là Thiên văn học.

    Bên cạnh đó, tuy Chiêm tinh học mang nhiều tính khoa học hơn so với tử vi phương Đông, nhưng dù vậy, phương pháp bói toán dựa theo cung Hoàng đạo vẫn mang nặng tính tinh thần và niềm tin hơn là dựa vào chứng cứ. Vậy nên, cung Hoàng đạo thứ 13 xuất hiện có thực sự làm xáo trộn hệ thống của Vòng tròn Hoàng đạo và gây nhiều tranh cãi thì hầu hết mọi người vẫn sẽ chọn cách tin những gì mình muốn tin. Và hơn hết, liệu ai có thể hiểu được bản thân hơn chính mình?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Xăm Chòm Sao Cung Song Ngư.
  • Cung Song Ngư Sinh Ngày 14 Tháng 3
  • Song Ngư Sinh Ngày 14 Tháng 3
  • Song Ngư Sinh Ngày 7 Tháng 3
  • Cung Song Ngư Sinh Ngày 7 Tháng 3
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100