Xem Nhiều 1/2023 #️ Vài Con Chiến Mã Uy Danh Trong Lịch Sử Tam Quốc # Top 8 Trend | Duongveyeuthuong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Vài Con Chiến Mã Uy Danh Trong Lịch Sử Tam Quốc # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vài Con Chiến Mã Uy Danh Trong Lịch Sử Tam Quốc mới nhất trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thời kỳ Tam Quốc, bên cạnh sự nổi bật về tài năng và trí dũng của những bậc anh hùng thì các con chiến mã tương xứng với chủ cũng lần lượt xuất hiện. Có một câu nói như thế này: Nếu không có ngựa quý cứu mạng thì có lẽ lịch sử đã không còn biết đến Tào Tháo, Lưu Bị, hay Triệu Tử Long. Điều đó phần nào thể hiện được tầm quan trọng của chúng.

Nhiều anh hùng Tam Quốc được tô điểm bởi chính những con chiến mã: Ngựa Xích Thố qua tay hai vị anh hùng là Lã Bố và Quan Vân Trường, ngựa Đích Lư của Lưu Bị, Dạ Chiếu Ngọc của Triệu Vân (tức Triệu Tử Long), Ô Vân Đạp Tuyết của Trương Phi, Tuyệt Ảnh của Tào Tháo.

Tuyệt Ảnh: Chiến mã phi nhanh nhất

Mỗi chiến mã đều có nhiều điểm quý khác nhau, nhưng chiến mã chạy nhanh nhất được mô tả trong Tam Quốc là con Tuyệt Ảnh của Tào Tháo. Đúng như cái tên của nó, sở dĩ gọi là Tuyệt Ảnh bởi nó phi nhanh đến nỗi cái bóng cũng không theo kịp.

Tuyệt Ảnh toàn thân màu đen, bốn chân rất khỏe, thân hình cao vạm vỡ, nó sở hữu đầy đủ tố chất của một con ngựa quý. Tuyệt Ảnh cùng Tào Tháo đi chinh chiến khắp nơi và nổi tiếng bởi tốc độ không có đối thủ. Nhưng Tuyệt Ảnh nổi tiếng không chỉ bởi tốc độ mà còn cả lòng trung thành với chủ. Không may thay, con chiến mã này đã bỏ mạng trong một cuộc chiến khốc liệt.

Năm 197, Tào Tháo cho quân đánh Trương Tú ở Uyển Thành, Trương Tú cho quân đầu hàng. Nhưng ngay sau đó, Trương Tú bất ngờ tập hợp quân tấn công khiến Tào Tháo trở tay không kịp. Tướng Điển Vi hộ vệ ngay bên Tào Thào vì cứu chủ mà phải bỏ mạng, giúp Tào Tháo lên Tuyệt Ảnh, chạy thoát khỏi thành trong đêm tối. Tuy nhiên quân Trương Tú vẫn đuổi theo ráo riết.

Quân Trương Tú bắn tên như mưa, khiến con Tuyệt Ảnh bị trúng 3 mũi. Dù vậy, nó vẫn lao đi. Chỉ đến khi bị trúng thêm một mũi tên vào mắt thì con chiến mã này mới gục ngã. Trận này con cả Tào Tháo là Tào Ngang bị quân Trương Tú giết chết. Tào Tháo phải lui quân về Vũ Âm. Mãi đến năm 199 Trương Tú nghe mưu Giả Hủ mới tiếp tục hàng Tào và được trọng dụng.

Đích Lư: Chiến mã nhảy xa nhất

Con Đích Lư của Lưu Bị thời đấy được xem là con ngựa quý nhưng lại có tướng sát chủ. Dù nhiều người khuyên Lưu Bị không nên dùng con ngựa này, thậm chí có người nói nên giết đi, nhưng Lưu Bị yêu quý con ngựa theo mình bao năm. Ông để ngoài tai hết và vẫn cưỡi con ngựa này.

Khi bị một tướng của Lưu Biểu là Sái Mạo truy sát, Lưu Bị vội chạy ra ngoài với tuấn mã Đích Lư. Quân Sái Mạo chạy sát theo sau, Lưu Bị vội chạy trốn nên bị lạc đường. Khi ông chạy đến suối Đàn Khê thì cùng đường, phía trước là suối, phía sau là quân của Sái Mạo đang đuổi tới.

Hết đường, Lưu Bị lúc này nhớ đến lời cảnh báo rằng ngựa Đích Lư sát chủ liền quất mạnh vào lưng ngựa và hét lên: “Đích Lư! Đích Lư! Hôm nay ngươi hại ta đi!” Đúng lúc này ngựa Đích Lư bất ngờ tung mình nhảy một phát sang bên kia suối, cứu Lưu Bị thoát chết.

Sự việc ngựa Đích Lư nhảy qua con suối Đàn Khê cứu chủ lập nên kỳ tích lớn. Sau lần thoát nạn này, Lưu Bị ngày càng yêu quý con ngựa của mình và không còn tin vào chuyện Đích Lư sát chủ nữa.

Bàng Thống hiến kế cho Lưu Bị đánh Lạc Thành, nhưng ngựa của Bàng Thống quáng mắt, sa chân, hất ông ngã xuống ngựa. Lưu Bị thấy vậy liền tạm đưa con ngựa Đích Lư của mình cho Bàng Thống cưỡi.

Thế nhưng Bàng Thống lại không có số hưởng phúc từ ngựa Đích Lư, quân của Bàng Thống bị mai phục sẵn ở gò Lạc Phượng, quân Tây Thục tưởng Bàng Thống là Lưu Bị liền tập trung tên bắn vào khiến Bàng Thống tử trận. Vậy lời phán Đích Lư có số sát chủ, thực ra lại không phải là sát Lưu Bị.

Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử: Chiến mã tung hoành giữa muôn vạn đại quân

Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử là con ngựa có lông trắng như tuyết, ngay từ khi mới sinh ra phía dưới cổ đã có một hàng lông dày, trông giống như sư tử. Buối tối con ngựa này phát ra ánh sáng rắng bạc nên có tên là Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử. Tương truyền một ngày ngựa có thể đi cả nghìn dặm.

Con ngựa này của Triệu Vân (Triệu Tử Long). Ông mỗi lần xuất quân đều cưỡi Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử. Một lần Triệu Vân cùng ngựa bị rơi vào cái hố bẫy sẵn của địch, tưởng như không thoát được, nhưng sức của con Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử rất lớn, nó nhảy thoát được khỏi miệng hố cứu chủ nhân của mình.

Trong trận đánh nổi tiếng Đương Dương – Trường Bản, Triệu Vân một mình cứu ấu chúa. Ông ẵm ấu chúa, ngồi trên con Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử, bị đội quân tinh nhuệ “hổ báo kỵ” của Tào Tháo bao vây.

Đoạn phim Triệu Tử Long cưỡi Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử cứu ấu chúa:

Thế nhưng Triệu Vân cùng con Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử vẫn tung hoành trong lớp lớp vòng vây quân Tào. Sức con chiến mã này thật lớn, giữa vòng vây muôn trùng quân Tào mà nó vẫn giúp Triệu Vân chém gãy 2 lá cờ lớn, hạ 50 chiến tướng khiến quân Tào thất kinh. Triệu Vân phá được vòng vây cứu ấu chúa trở về. Từ trận đánh nổi tiếng ấy mà về sau có câu thơ rằng:

Tam Quốc Diễn Nghĩa ” Ai Đứng Đầu Ngũ Hổ Tướng Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa? ” Creations Boutiques

Tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung nói rằng Lưu Bị sau khi lên ngôi vào năm 219 đã lấy hiệu là Hán Trung Vương, sắc phong 5 vị dũng tướng – gồm Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu, Hoàng Trung – là Ngũ Hổ Thượng Tướng.

Theo Sina, nếu xét về danh tiếng và chiến công riêng hiển hách, Võ thánh Quan Vũ sẽ đứng vị trí cao nhất.

Tuy vậy, nếu xếp cả về đức độ, tài thao lược, trí dũng song toàn, chắc hẳn Triệu Vân sẽ đứng đầu. Các vị trí dưới lần lượt xếp theo Trương Phi, Mã Siêu và Hoàng Trung.

Trên thực tế, sử sách không xác nhận Ngũ Hổ Tướng.

Do La Quán Trung dành nhiều thiện cảm cho nhà Thục khi viết về thời Tam Quốc nên hình tượng của các vị tướng lĩnh dưới trướng Lưu Bị được khắc họa hết sức uy mãnh và đi vào điển tích, ăn sâu trong tiềm thức của nhiều người.

1. Quan Vũ

Quan Vũ (sinh ? – mất 220), tên tự Trường Sinh, sau đổi thành Vân Trường, quê ở Vận Thành, tỉnh Sơn Tây, miền bắc của Trung Quốc ngày nay.

Ông cao chín thước (khoảng 2 m), mặt đỏ như gấc, mắt phượng mày tằm, râu dài hai thước, oai phong lẫm liệt, là vị dũng tướng tiếng tăm lừng lẫy cuối thời Đông Hán.

Từ trẻ theo phò trợ Lưu Bị, một lòng trung thành, xả thân vì chúa, ông cũng là vị dũng tướng mà Lưu Bị hết lòng tin cậy, phong làm Tiền tướng quân.

Sau khi Quan Vũ mất, nhân dân tôn ông làm “Võ Thánh”, sánh ngang với Văn thánh Khổng Tử và được thờ cúng với tượng mặt đỏ, mày tằm hình chữ bát, mắt phượng sáng như sao, râu rồng rõ năm chòm, trán hùm thân lẫm liệt, tay cầm cây thanh long yểm nguyệt, cưỡi ngựa xích thố.

Dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa và trung thành, nhưng các nhà sử học cũng phê phán ông vì tính kiêu căng, ngạo mạn.

Dân gian coi Quan Vũ là bậc anh hùng cái thế, dũng cảm phi thường, đứng đầu toàn quân.

Trong tam tuyệt của Tam Quốc Diễn Nghĩa, ông được xếp là “tuyệt nghĩa” (Tào Tháo là tuyệt gian, Gia Cát Lượng là tuyệt trí).

Quan Vũ là bậc bề tôi trung thành, dù nhiều lần Tào Tháo hậu đãi chiêu mộ nhưng ông không từ bỏ Lưu Bị, theo Lưu Bị nhiều năm phải trải qua gian lao khó nhọc nhưng ông vẫn một lòng không thay đổi.

Với sức khỏe hơn người, Quan Vũ dùng thanh long đao 40 kg.

Trong suốt cuộc đời chinh chiến, ông lập nhiều chiến công hiển hách, diệt nhiều tướng tài của địch như Trình Viễn Chí, Quản Hợi, Hoa Hùng, Tuân Chính, Bàng Đức.

Nhiều câu chuyện về Quan Vũ như ông ung dung chơi cờ trong khi Hoa Đà ở bên cạo xương trị độc (cạo xương trị thương), hay việc hiển linh sau khi chết khiến kẻ giết ông là Lã Mông chết bất tử vì quá sợ hãi, thủ cấp nổi giận khiến Tào Tháo đau đầu nặng đến mức qua đời đã đi vào điển tích truyền kỳ, đề cao uy linh và dũng khí can trường của Võ Thánh.

Bên cạnh khí chất vũ dũng phi phàm, Quan Vũ có nhược điểm vì tính kiêu ngạo, không chịu dưới người khác, như việc ông có ý so sánh bản thân Mã Siêu, để Gia Cát Lượng phải lựa ý ca ngợi ông hơn hẳn, còn Mã Siêu chỉ xếp cùng hạng với Trương Phi mà thôi.

Hay khi Lưu Bị phong ông làm Tiền tướng quân, Hoàng Trung là Hậu tướng quân, ông không bằng lòng nên Phí Vĩ phải lựa lời phân tích lý lẽ, ông mới chịu nhận chỉ.

2. Trương Phi

Trương Phi (sinh ? – mất năm 221), tên tự Dực Đức, người tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay.

Trương Phi giữ chức Hữu tướng quân, sau khi Lưu Bị xưng đế, được phong làm Tây Hương Hầu.

Ông sinh trưởng trong một gia đình nghèo, làm nghề bán rượu, thân hình to lớn, dung mạo oai phong, được học hành cả võ nghệ lẫn sách vở.

La Quán Trung miêu tả Trương Phi “cao tám thước, đầu báo, mắt tròn, râu hùm, hàm én”, tính cách vô cùng khẳng khái, bộc trực và rất nóng nảy.

Tuy nóng tính và dữ dằn, nhưng dân chúng lại rất yêu quý hình tượng Trương Phi, vì ông đại diện cho vị võ tướng trượng nghĩa, căm ghét cái ác, và hết lòng hết sức vì anh em.

Trương Phi là người sát cánh cùng Lưu Bị từ thuở hàn vi, ông đã đóng góp rất nhiều cho sự ra đời của nước Thục.

Trương Phi nổi tiếng với sức khỏe địch muôn người cùng với sự dũng cảm coi thường cái chết.

Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù, trong trận Tương Dương, Trường Bản, tuy chỉ còn vài chục quân sĩ, còn quân Tào đông đến mấy trăm vạn, nhưng sự dũng mãnh của ông đã khiến Tào Tháo hoảng sợ phải lui quân.

Ông đã cùng đơn đấu với Lã Bố đến hơn 50 hiệp mà bất phân thắng bại.

Những chiến công của Trương Phi có thể kể tới: dẹp giặc Khăn Vàng, chặn quân Tào Tháo ở trận Trường Bản, truy kích Tào Tháo ở trận Xích Bích, đánh Tây Xuyên, thu phục Nghiêm Nhan, giao tranh với Trương Cáp ở Ba Tây, đánh nhau với Mã Siêu…

Trương Phi tuy là bậc anh hùng có mưu có dũng, nhưng tính tình quá nóng nảy, dễ nổi giận lôi đình, khiến không ít lần bị rơi vào bẫy của kẻ địch, cuối đời còn mang họa sát thân.

3. Triệu Vân

Triệu Vân (sinh ? - mất năm 229), người huyện Chính Định Nam, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ngày nay, tên tự là Tử Long.

Thuở nhỏ theo Công Tôn Toản, sau về phò trợ cho Lưu Bị.

Ông có ngoại hình hùng dũng, uy phong lẫm liệt, giỏi võ nghệ và có tài thao lược, được đánh giá là bậc hổ tướng trí dũng song toàn.

Tam Quốc diễn nghĩa có ghi rằng ông “cao tám thước, mắt rồng, mày rậm, má bầu, mặt rộng, sống mũi diều hâu, lưng sói, tay vượn, bụng beo, cưỡi Bạch Long mã, uy phong lẫm liệt”.

Ông nổi tiếng với tài dùng thương, mười dũng tướng của Tào Tháo không địch nổi một mình Triệu Vân.

Với tài thương thuật của mình, Triệu Vân có thể dũng mãnh tả xung hữu đột, giành được chiến thắng trong vòng vây kẻ địch.

Ông được Lưu Bị ngợi khen như là một vị võ tướng dũng khí có thừa.

Những chiến tích của Triệu Vân phải kể đến: phá trận Bát Môn kim Tỏa của Tào Nhân, hai lần cứu A Đẩu, một mình cưỡi Bạch Long mã phá vây hàng vạn quân Tào, chém gãy 2 lá cờ to, giết 50 danh tướng quân Tào, lấy được thanh gươm báu Thanh Công, thanh gươm báu mạ vàng của Tào Tháo, có thể chém gãy các loại binh khí.

Ông cũng truy kích Tào Tháo ở trận Xích Bích, đánh Tây Xuyên, Hán Trung, đánh tộc người Man do Mạnh Hoạch chỉ huy, tham gia Bắc phạt do Gia Cát Lượng chỉ huy.

Sau khi Lưu Bị chiếm được Ích Châu, ông được phong làm Dực tướng quân, phò trợ Lưu Bị đánh Trung Hán.

Kiến Hưng năm thứ 6 (tức năm 228), Triệu Vân dẫn quân hỗ trợ cho Gia Cát Lượng tiến đánh Quan Trung, tuy lúc này tuổi đã cao nhưng Triệu Vân vẫn hết sức dũng mãnh quyết chiến với quân địch, sau rút quân về được Hán Trung, năm sau thì mất.

Triệu Vân là hổ tướng có uy dũng, quả cảm trên chiến trường, nhưng có tình có nghĩa, chắc chắn, bình tĩnh, tận tụy, không nóng nảy xốc nổi như Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu.

Trong chính sự, ông một lòng vì nước, có tư duy nhạy bén, suy nghĩ thấu đáo.

Như khi Lưu Bị khởi quân đánh Tôn Quyền, để trả thù cho Quan Vũ, Triệu Vân đã đứng ra khuyên gián Lưu Bị “Quốc thù nên xem là trọng, tư thù nên xem là nhẹ”, nhưng Lưu Bị không nghe, kết quả quân Lưu Bị đại bại, Triệu Vân phải mang quân đến tiếp ứng rước về.

4. Mã Siêu

Mã Siêu (176-222), tên tự Mạnh Khởi, quê ở Hưng Bình, huyện Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay, là danh tướng của Thục Hán thời Tam Quốc.

Mã Siêu được Lưu Bị hoàn toàn tin cẩn giao nhiều trọng trách quan trọng đồng thời tấn phong cho ông làm Tả tướng quân.

Mã Siêu có tài bắn tên và có lối đánh thần tốc.

Trong mỗi trận giao chiến, ông thường xung phong đi nhưng cũng là người đích thân đoạn hậu, luôn rút lui sau cùng để bảo vệ cho quân lính an toàn.

Ngoài sự anh dũng, thiện chiến trong chiến đấu, trong Tam Quốc diễn nghĩa, ông được biết đến với biệt danh “Cẩm Mã Siêu” nghĩa là Mã Siêu tuyệt đẹp, hay tuyệt mỹ.

La Quán Trung mô tả và ước lệ hóa Mã Siêu trở thành một vẻ đẹp gần như tuyệt mỹ của một trang nam tử trẻ tuổi.

“Mã Siêu là một viên tướng trẻ tuổi, mặt đẹp như ngọc, mắt sáng như sao, mình hổ tay vượn, bụng beo lưng sói, tay cầm một ngọn giáo dài, mình cưỡi con ngựa đẹp”.

Theo đó, ông vừa có sự kết hợp gần như là hoàn hảo của dung mạo, thể hình và phong độ, vừa có cái đẹp của một công tử dòng dõi thế gia lại vừa có cái đẹp mạnh mẽ, kiêu dũng của những chiến binh, dũng sĩ của các bộ tộc miền quan ngoại.

Mã Siêu được miêu tả là một hổ tướng sức địch muôn người, được Tào Tháo và Dương Phụ ví như Lã Bố tái thế, Khổng Minh so sánh với Kình Bố, Bành Việt.

Sức mạnh và sự uy dũng của ông được thể hiện trong những trận chiến mà ông tham gia, đặc biệt là hai trận đánh tay đôi với Hứa Chử, viên hổ tướng mạnh nhất của quân Ngụy và Trương Phi, một trong Ngũ Hổ tướng của Nhà Thục, là hai trong những trận đấu tướng hay nhất, hấp dẫn và kịch tính nhất trong Tam quốc.

Tuy vậy, qua tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa Mã Siêu về cơ bản được xếp vào hạng hữu dũng, võ biền, hay nóng giận, là một võ tướng chỉ đơn thuần dựa vào sức mạnh và uy dũng giống như Lã Bố.

Chính vì không đủ trí dũng song toàn để tham gia vào cuộc tranh hùng đầy khốc liệt trong thời kỳ này, nên cuộc đời binh nghiệp của Mã Siêu luôn gặp nhiều thất bại, liên tục bị mắc mẹo, bị bội phản, chiêu dụ.

Tuy được xếp hạng hổ tướng, được Lưu Bị tin dùng, nhưng cuộc đời riêng của ông gặp nhiều đau khổ, không báo được thù cha, cả gia tộc hơn 200 người đều bị Táo Tháo hại chết.

5. Hoàng Trung

Hoàng Trung (sinh ? – mất năm 220), tên tự Hán Thăng, người tỉnh Nam Dương, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay. Ông là danh tướng cao tuổi nhất trong ngũ hổ tướng.

Ông vốn giữ chức Trung Lương tướng quân, là thuộc hạ của Lưu Biểu, sau đầu quân cho Lưu Bị và giúp Lưu Bị đánh Lưu Chương, chiếm Ích Châu.

Năm 219, trong trận chiến với quân Tào ở núi Định Quân. Lưu Bị thống lĩnh quân Thục giao chiến với danh tướng của Tào là Hạ Hầu Uyên.

Binh lính phía Tào đều hết sức thiện chiến, tinh nhuệ, phía bên này, lão tướng Hoàng Trung tiên phong dẫn quân, đánh trống gõ chiêng, binh sĩ đồng lòng hô vang, khí phách lẫm liệt.

Trận này Hoàng Trung lập công lớn, chém chết Hạ Hầu Uyên và được phong làm Chinh Tây tướng quân.

Sau khi Lưu Bị xưng Hán Trung Vương, đã phong ông làm Hậu tướng quân, và ban tước Quan Nội Hầu.

Hoàng Trung là vị hổ tướng dũng mãnh, khí chất dẫn đầu tam quân, đặc biệt ông có tài bắn cung thiện nghệ, thành ngữ “Bách phát bách trúng” trong tiếng Hoa cũng bắt nguồn từ tài bắn tên của ông.

Tuy nhiên cuối đời, ông chết vì trúng tên của quân địch.

Sau khi Quan Vũ bị Đông Ngô chém thủ cấp, để báo thù cho nhị đệ, Lưu Bị dẫn quân thảo phạt Đông Ngô.

Khi giao chiến, Quan Hưng, Trương Bào liên tục trảm tướng giết địch quân, Lưu Bị hết mực tán thưởng thiếu niên tuổi trẻ tài cao, Hoàng Trung tự thấy mình là bậc lão tướng, có phần không phục, bèn đơn thương độc mã khiêu chiến.

Khi giao tranh, thấy tướng Đông Ngô là Phan Chương tay cầm thanh long đao yểm nguyệt của Quan Vũ, Hoàng Trung nóng vội muốn báo thù, nên đã khinh suất trúng mai phục của quân địch, và bị Mã Trung bắn tên trúng vai.

Năm đó Hoàng Trung tuổi tác đã cao lại cộng thêm vết thương mất nhiều máu, không lâu sau ông qua đời.

12 Chòm Sao Là Nhân Vật Nào Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa?

Bạch Dương: Trương Phi – là một người rất khẳng khái, bộc trực và rất nóng nảy. Ông đã đóng góp rất nhiều cho sự ra đời của nước Thục. Ông nổi tiếng với võ nghệ siêu phàm cùng với sự dũng cảm coi thường cái chết. Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù. Như trận đánh cầu Trường Bản, ông đã quát mấy tiếng khiến Tào Tháo hoảng sợ mà lui quân

Kim Ngưu: Đổng Trác – Đổng Trác nắm quyền sau khi thu phục vơ vét của dân chúng, đóng ở phu phòng ngự riêng biệt ngoại thành Trường An. Đổng Trác cưỡng bức hàng trăm vạn dân Lạc Dương bỏ kinh thành về Tràng An và đốt trụi kinh thành, giấu vàng bạc châu báu trong thiên hạ, nam thanh nữ tú, sống vinh hoa phú quý cùng mỹ nhân Điêu Thuyền, có thể nói là vô cùng hưởng thụ.

Song Tử: Dương Tu – học rộng tài cao, có tài trí hơn người, nhưng cũng chính vì trí thông minh mà chuốc hoạ vào thân, nhiều lần khiến Tào Tháo ngậm bồ hòn làm ngọt bằng những xử lý tình huống rất thông minh của mình, nói trúng tim đen của Tào Tháo cho mọi người biết nên lấy cớ là Dương Tu phao tin làm loạn lòng quân, đem ra chém đầu.

Cự Giải: Tào Thực – Lúc Tào Tháo xây xong Đồng tước đài thì Tào Thực chỉ khoảng 10 tuổi. Vậy mà, khi nghe cha ra lệnh các con làm thi phú để tán tụng, ông làm xong bài phú Đồng tước đài, khiến cha vừa mừng vừa kinh ngạc, và Tào Phi bắt đầu ganh tị với ông từ đó. Có tài văn chương, viết chữ rất đẹp, tài trí nhanh nhẹn, hạ bút thành văn. Tào Phi tức hoàng đế, ghen ghét đố kỵ với tài hoa nên muốn giết Tào Thực, nhưng Tào Thực đã “đi bảy bước thành thơ” khiến Tào Phi cảm động, thể hiện tình cảm gia đình của Cự Giải.

Sư Tử: Quan Công (Quan Vũ/ Quan Vân Trường) – Quan Vũ “qua 5 ải chém 6 tướng”. Trong khi dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa thì các nhà sử học cũng phê phán ông về các tính kiêu căng, ngạo mạn. Quan Vũ được đánh giá là người dũng cảm phi thường, đứng đầu toàn quân. Ông trọng điều nghĩa, giữ chữ tín, là bầy tôi trung thành. Dù được Tào Tháo hậu đãi nhưng ông không từ bỏ Lưu Bị; theo Lưu Bị nhiều năm phải trải qua gian lao khó nhọc nhưng ông vẫn một lòng không thay đổi.

Xử Nữ: Chu Du – Xuất thân là con nhà quan, vẻ ngoài anh tuấn, thông minh hơn người, đa mưu túc trí. Chu Du là người yêu âm nhạc, lễ phép khiêm tốn, nhưng trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, ông bị mô tả như một đứa trẻ ngô nghê và nóng tính, bị Gia Cát Lượng chọc tức 3 lần đến chết. Nhà văn còn viết một câu khá nổi tiếng rằng trước khi chết Chu Du phẫn uất mà than: “Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng?”. Xử Nữ tuy đa tài đa nghệ nhưng lòng dạ không rộng lượng.

Thiên Bình: Lữ Bố – Được xưng là “Phi tướng quân”, là võ tướng dũng mãnh ưu tú nhất trong tam quốc diễn nghĩa. Suốt đời hữu dũng vô mưu, phản phúc vô thường, không qua ải mỹ nhân. Là ưu điểm cũng là khuyết điểm của Thiên Bình.

Thiên Yết: Gia Cát Lượng (tự Khổng Minh) – Khổng Minh đã giúp Lưu Bị cùng với Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở Xích Bích, suốt đời bền bỉ kiên định phò tá cho Lưu Bị, tinh thông Âm Dương Ngũ Hành, liệu việc như thần, giỏi về dùng kế. Người đời sau có câu:”Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng, thống nhất sơn hà Lưu Bá Ôn.”, đế nói lên tài năng muôn đời của ông.

Nhân Mã: Hoa Đà – Hoa Đà nổi tiếng là thầy thuốc giỏi đương thời, giỏi châm cứu, có hiệu là “Thần y”. Được Tào Tháo giữ lại để chữa bệnh, nhưng do cách chữa bệnh quá nghiêm túc và thẳng thắn nên mới bị giết. Ông được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.

Ma Kết: Tào Tháo – là nhà chính trị, quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đặt cơ sở cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Là người thông minh nhanh nhạy, nghĩa hiệp. Tào Tháo hùng tài đại lược, dũng cảm mưu trí hơn người nhưng cũng là người đa nghi, nham hiểm và tàn nhẫn… “Thời trị, ông là bề tôi giỏi; Thời loạn, ông là kẻ gian hùng” suốt đời trọng người tài chứ không trọng đức, chỉ cần đạt được mục đích là không từ thủ đoạn.

Thuỷ Bình: Bàng Thống – Được xưng là tiểu phượng hoàng, nổi danh cùng với Gia Cát Lượng. Dung mạo xấu xí, hiến kế cho Tào Tháo, trở thành thắng bại then chốt trong trận Xích Bích. Tư Mã Huy nhận xét về Bàng Thống như sau: “Nếu được một trong hai người Ngọa Long (tức Khổng Minh) hoặc Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì có thể định hưng được thiên hạ”.

Song Ngư: Lưu Bị – Lưu Bị đã cùng Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa anh em cùng nhau đánh giặc. Lưu Bị lung lạc bốn bể, theo phò nhiều người như Lã Bố, Viên Thiệu, Tào Tháo, Lưu Biểu… trong một thời gian. Lưu Bị là một nhà lãnh đạo có sức hút và rất giỏi thu phục lòng người. Thuở lập nghiệp, ông dù tay trắng nhưng 2 mãnh tướng Quan Vũ, Trương Phi vẫn bất chấp khó khăn mà phụng sự ông tới cùng. Lưu Bị có Gia Cát Lượng làm quân sư, sau đó, có thêm 1 đại quân sư nữa là Bàng Thống.

Lịch Sử 12 Cung Hoàng Đạo

Sự phân chia vòng tròn hoàng đạo ra làm 12 cánh, mỗi cánh một kí tự được hình thành bởi các nhà thiên văn Babylon cổ đại vào thiên niên kỷ 1 TCN. Mỗi cánh có độ quay 30 o tương ứng với một tháng trong lịch Babylon cổ. Các nhà thiên văn Babylon cũng đặt cho mỗi cung hoàng đạo một ký tự. Trong đó, cánh đầu tiên có tên là Bạch Dương (Aries), ký tự là một con cừu núi.[4] Dần dần sau này, Hoàng Đạo đã có ảnh hưởng lớn hơn vào thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Việc sử dụng Hoàng Đạo để tiên đoán về tính cách, sự nghiệp,… vào thời kì này trở nên khá phổ biến. Nó có ảnh hưởng tới tận vào thời Trung Cổ sau này.

Thời Hy Lạp cổ đại

Cách phân chia của Babylon du nhập vào chiêm tinh học Hy Lạp vào thế kỷ 4 TCN.[5][6] Chiếm tinh số mệnh xuất hiện lần đầu tại Ai Cập thuộc Hy Lạp. Cung Hoàng Đạo Dendera (khoảng năm 50 TCN) là mô tả sớm nhất về 12 cung Hoàng Đạo. Đóng vai trò quan trọng trong chiêm tinh học số mệnh của phương Tây là nhà thiên văn học kiêm chiêm tinh học Claudius Ptolemaeus với tác phẩm Tetrabiblos được xem là nền tảng của chiêm tinh học phương Tây.

Mười hai cung Hoàng Đạo

Điểm khởi đầu theo lý thuyết của cung Bạch Dương là xuân phân. Các cung khác cứ thế nối tiếp. Ngày giờ chính xác theo lịch Gregory thường khác biệt chút ít từ năm này sang năm khác, bởi lẽ lịch Gregory thay đổi tương ứng với năm chí tuyến, trong khi độ dài năm chí tuyến có bản chất thay đổi đều đều. Trong quá khứ gần đây và tương lai không xa thì các sai khác này chỉ vào khoảng dưới hai ngày. Từ năm 1797 đến năm 2043, ngày xuân phân (theo giờ UT – Universal Time) luôn rơi vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3. Ngày xuân phân từng rơi vào ngày 19 tháng 3, gần đây nhất vào năm 1796 và lần tới là năm 2044

Bạn đang xem bài viết Vài Con Chiến Mã Uy Danh Trong Lịch Sử Tam Quốc trên website Duongveyeuthuong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!